ngôn ngữ sài gòn xưa
Bài viết sưu tầm về những công trình cổ xưa nhất của đất Sài Gòn sau hơn 300 năm được khai phá Trong giai đoạn lịch sử mới, người Việt Nam từng bước tiếp xúc với ngôn ngữ và văn minh mới. Trương Vĩnh Ký là ᴍột trong những người sớm tiếp xúc và hấp thụ
những từ như " lì xì, thèo lèo, xí mụi, cũ xì" là mượn, những từ như " xà quầng, mình ên" là của người kh'mer. nói riết đâm quen, dần dần những từ ngữ đó, những tiếng nói đó được người dân sài gòn sử dụng một cách tự nhiên như của mình, điều đó chẳng có gì lạthêm vào đó, nó được sửa đổi nhiều cho phù hợp với giọng sài gòn, thành ra có những nét …
Sách Đất Gia Định Xưa, Bến Nghé Xưa, Người Sài Gòn Tác giả: Sơn Nam, Công ty phát hành NXB Trẻ Ngày xuất bản 08-2018 Kích thước 14 x 20cm Loại bìa Bìa mềm Số trang 472 SKU 3939099072858 Nhà xuất bản NXB Trẻ. 3. Mô tả sách Đất Gia Định Xưa, Bến Nghé Xưa, Người Sài Gòn
"Nam Bộ xưa"- một dòng phim đặc sắc. Có thể nói, phim ảnh là loại hình có nhiều ưu thế trong việc chuyển tải ngôn ngữ, giọng điệu, hình ảnh, trang phục, rộng lớn hơn là hoàn cảnh xã hội, thân phận con người Nam Bộ xưa đến với khán giả hôm nay.
Đời tôi - Vũ Minh Thiều (dịch) / Gió bốn phương xuất bản / sách tốt / 300k. Cửa hàng: Bá Tân sách - Sài Gòn năm xưa, số 451/22 Hai Bà Trưng, quận 3 (tìm kiếm trên google về quán để biết thêm chi tiết) Website: Batansach.com. Zalo: 0398.589.636. Fanpage có sách mới mỗi ngày: Sách cũ
mimpi bertemu nenek nenek yang tidak dikenal. Người ta nói rằng, tiếng Việt là một trong những thứ tiếng khó học nhất, khó hơn cả tiếng Anh – thứ ngôn ngữ mà nhiều người trẻ vẫn thường than thở là gai góc, “khó nuốt”, bởi tiếng Việt của chúng ta quá phong phú về từ và nghĩa của từ. Đó là chưa kể đến tiếng địa phương và cách nói riêng của từng vùng miền. Bấy nhiêu đó cũng đủ để khiến một người nước ngoài học tiếng Việt trầy trật. Trong đó, cách nói chuyện và sử dụng từ ngữ của người dân Nam Bộ, mà nổi bật nhất là người Sài Gòn, mang những nét đặc trưng khác biệt thôi thúc người ta muốn tìm tòi, khám phá nhất. Cách nói chuyện của người Sài Gòn xưa cũng khiến không ít người đi từ ngờ ngợ sang thích thú. Với những ai lần đầu đặt chân đến Sài Gòn, họ không chỉ bị choáng ngợp với lối sống của thành phố nhộn nhịp, nhiều màu sắc này, mà cách nói chuyện của người Sài Gòn cũng khiến không ít người đi từ ngờ ngợ sang thích thú. Đặc biệt nhất, chính là ngôn ngữ của Sài Gòn xưa, một trong những thứ văn hóa còn được lưu giữ trong “hơi thở” của Sài Gòn nay. Đó là những từ ngữ sẽ khiến người nghe lần đầu phải ngơ ngác vì không hiểu nghĩa. Người nghe nhiều tự khắc “nhiễm” từ bao giờ vào cách nói chuyện của mình. Đơn giản là vì sự mộc mạc, đời sống nhưng không kém phần hoa mĩ của chúng khiến người ta dễ yêu dễ thương. Giờ thì, chúng ta hãy cùng lên chuyến tàu ngược về thời gian cũ, để tìm hiểu về những từ ngữ từng thông dụng một thời của Sài Gòn xưa ấy nhé! 1. Âm binh nghịch ngợm, phá phách Lũ âm binh = Lũ nghịch ngợm Mấy đứa trẻ con nghịch ngợm. 2. Bo bo xì nghỉ chơi, không chơi cùng nữa Bo bo xì nó đi = Nghỉ chơi với nó đi 3. Bặc co tay đôi đánh nhau tay đôi Tụi mày dám bặc co tay đôi không? = Tụi mày dám đánh nhau tay đôi không? 4. Cà tàng bình thường, quê mùa Chiếc xe cà tàng = Chiếc xe xấu xí, quê mùa 5. Cà rá chiếc nhẫn Cà rá đẹp = Chiếc nhẫn đẹp 6. Chàng hảng chê hê banh chân ra ngồi Con gái con đứa gì mà ngồi chàng hảng chê hê hà! = Con gái con đứa gì mà banh chân ra ngồi à! Họ ngồi chồm hổm mua bán trên vỉa hè. 7. Chì giỏi Anh ấy học chì lắm đó = Anh ấy học giỏi lắm đó 8. Chồm hổm ngồi bó gối hoặc ngồi lâu một chỗ không nhúc nhích 9. Càm ràm nói nhiều, nói dai Lại tới giờ bà ấy càm ràm = Lại tới giờ bà ấy nói nhiều 10. Cà nhổng rảnh rỗi, không có việc gì làm Nó suốt ngày cà nhổng = Nó suốt ngày rảnh rỗi 11. Đá cá lăn dưa lưu manh Cái tụi đá cá lăn dưa = Cái tụi lưu manh 12. Đi bang bang đi ngênh ngang Qua đường mà nó đi bang bang = Qua đường mà nó đi nghênh ngang Những chiếc xe cứ bang bang trên đường phố. 13. Đặng được; Qua anh/chị Qua tính vậy em coi có đặng hông? = Anh/chị tính vậy em coi có được không? 14. Ghẹo chọc quê Anh ghẹo em quài = Anh chọc quê em hoài 15. Hổm rày từ mấy ngày nay Hổm rày trời mưa miết = Mấy ngày nay trời mưa miết 16. Làm nư lì lợm, khó bảo, cứng đầu Nó làm nư lắm! = Nó cứng đầu lắm! 17. Lên hơi, lấy hơi lên bực tức Nghe ông nói mà tui muốn lên hơi = Nghe ông nói mà tui thấy bực 18. Liệu hồn coi chừng Mày cứ liệu hồn đấy! = Mày cứ coi chừng đấy! 19. Lô đồ giả, đồ xấu, đồ kém chất lượng Cái quạt này là đồ lô phải hông? = Cái quạt này là đồ giả phải không? 20. Mát trời ông địa thoải mái Cứ xài mát trời ông địa đi = Cứ dùng thoải mái đi 21. Mình ên một mình Đi ăn mình ên hả? = Đi ăn một mình? Tự nhiên quê xệ hà! = Tự nhiên xấu hổ à! 23. Tầm xàm bá láp vớ vẩn Chuyện tầm xàm bá láp = Chuyện vớ vẩn Đừng quan tâm chuyện tầm xàm ba láp. 24. Tầy quầy, tùm lum là la bừa bãi, lộn xộn, không ngăn nắp Con gái gì mà ăn ở tầy quầy quá! = Con gái gì mà ăn ở lộn xộn quá! 25. Thèo lẻo mách lẻo Người gì mà cứ ưa thèo lẻo = Người gì mà cứ thích mách lẻo 26. Thưa rĩnh thưa rang lưa thưa, lác đác Giờ này rồi mà người còn thưa rĩnh thưa rang = Giờ này rồi mà người còn lác đác 27. Thí cho không, miễn phí, bỏ Thôi thí cho nó đi = Thôi cho không nó đi/Thôi bỏ đi 28. Xảnh xẹ xí xọn, làm điệu Cô ấy suốt ngày xảnh xẹ thôi! = Cô ấy suốt ngày xí xọn, làm điệu thôi! Những người phụ nữ xảnh xẹ trên phố. 29. Xẹt ra – xẹt vô đi ra đi vào rất nhanh Ông ấy xẹt vô xẹt ra rồi chẳng thấy đâu nữa = Ông ấy đi vào đi ra rất nhanh rồi chẳng thấy đâu nữa 30. Xì xà xì xầm nói to nhỏ Có chuyện gì mà họ cứ xì xà xì xầm suốt = Có chuyện gì mà họ cứ nói to nhỏ suốt Những từ ngữ vừa được giải nghĩa trên đây chỉ là số ít trong kho tàng từ ngữ phong phú của người dân Nam Bộ nói chung và người Sài Gòn nói riêng. Có những từ vẫn còn dùng thông dụng cho đến ngày nay qua cách nói chuyện giữa các thế hệ trong gia đình với nhau. Với nhiều người, đó thực sự là cách nói dân dã nhưng không kém phần thú vị, còn bạn, bạn cảm nhận thế nào về những ngôn từ từng ăn sâu vào nếp sống của một thời này? Ảnh Internet
Nếu nói không ngoa thì bất kỳ ngôn ngữ nào trên thế giới cũng đều trải qua sự vay mượn từ những ngôn ngữ khác để hình thành vốn ngôn ngữ riêng. Ảnh hưởng văи hóa được xem là một trong những tác động cнíɴн cho việc hình thành sự vay mượn về mặt ngôn ngữ của các nước. Ngoài ra còn có các yếu tố khác như địa lý, lịch sử, xã hội và cнíɴн trị. Điển hình là miền Nam nói chung hay toàn Sài Gòn nói riêng vốn là “melting pot”, dễ dàng hòa nhập với nhiều nền văи hóa khác như Trung Quốc, Pháp, Mỹ hay Anh. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng đã phần nào giải thích được lý do vay mượn ngôn ngữ của người Sài Gòn trong ca khúc “Gia Tài Của Mẹ” như sau “Một nghìn năm đô hộ ԍιặc Tàu, một trăm năm đô hộ ԍιặc Tây, hai mươi năm nội cнιếɴ từng ngày…”. Thử hỏi, có một Việt Nam trải qua cả ba thời kỳ ảnh hưởng như thế từ Tàu, sang Tây rồi đến cuối cùng Mỹ thì ngôn ngữ có bị chịu tác động hay không chứ? Trước hết là về tiếng Trung Hoa hay ta vẫn thường nôm na gọi một cách “mỉa mai” là tiếng Tàu cùng những biến thể khi gọi người nước này là Người Tàu, Ba Tàu, Các Chú, Chệt,…Sở dĩ có những tên gọi này là vì “…An Nam ta kêu là Tàu, người bên Tàu, là vì khách thường đi đường Tàu qua đây, lại dùng tàu chở đồ hàng hóa qua đây buôn bán; nên kêu là Tàu, hàng Tàu, đồ Tàu Ba Tàu có cách giải thích như sau Ba có nghĩa là ba vùng đất mà chúa Nguyễn cho phép người Hoa làm ăи và sinh sống vùng Cù Lao Phố Đồng Nai, Sài Gòn – Chợ Lớn, Hà Tiên, từ Tàu bắt nguồn từ phương tiện đi lại của người Hoa khi sang An Nam, nhưng dần từ Ba Tàu lại mang nghĩa miệt thị, gây ảnh hưởng xấu…” “…Kêu Các Chú là bởi người Minh Hương mà ra; mẹ An Nam cha Khách nên nhìn người Tàu là anh em, bằng không thì cũng là người đồng châu với cha mình, nên mới kêu là Các Chú nghĩa là anh em với cha mình. Sau lần lần người ta bắt chước mà kêu bậy theo làm vậy…” “…Còn kêu là Chệc là tại tiếng Triều Châu kêu tâng Chệc nghĩa là chú. Người bên Tàu hay giữ phép, cũng như An Nam ta, thấy người ta tuổi đáng cậu, cô, chú, bác thì kêu tâng là chú là cậu vân vân. Người An Nam ta nghe vậy vịn theo mà kêu các ảnh là Chệc…” Theo Gia Định Báo – số 5, năm thứ 6, phát hành ngày 16/02/1870 Cách giải thích trên của tuần báo Gia Định có từ thế kỷ thứ 19 được xem là tạm ổn về khái niệm vì đây là một trong những tài liệu xưa xuất phát từ miền Nam Việt Nam. Trong Tầm nguyên tự điển Việt Nam của tác giả Lê Ngọc Trụ thì từ Chệt hoặc Chệc theo tiếng Tiều có nghĩa là thúc em trai của cha, nhưng khi đến người Sài Gòn thì họ lại gọi chung từ Chệc là chỉ người Hoa. Nếu người Triều Châu chấp nhận được gọi như thế vì có ý tôn họ làm chú, thì người Quảng Đông lại có suy nghĩ hoàn toàn trái ngược, họ nói cách gọi đó là đang miệt thị họ và họ không chấp nhận cách gọi đó. Người ta còn dùng các từ ngữ khác để chỉ người Tàu với ý nghĩa miệt thị và coi thường như Khựa, Xẩm, Chú Ba,…Sự phân biệt rất rõ ràng trong cách gọi cнíɴн là đối với phụ nữ thì gọi là Thím Xẩm, còn đối với nam giới sẽ bị gọi là Chú Ba. Năm 1956, thời kỳ Đệ Nhất Cộng Hòa dưới cнíɴн quyền Ngô Đình Nhiệm đã đưa ra một cнíɴн sách khá táo bạo, buộc tất cả người Hoa kiều tại Việt Nam phải nhập quốc tịch, nếu không sẽ bị trục xuất khỏi đất nước. Thời điểm đó, phần lớn thương nghiệp tại miền Nam là do người Hoa Kiều kiểm soát, vì vậy, cнíɴн phủ là cố tình tạo ra sức ép để giúp những doanh nhân Việt, hạn chế quyền lợi của người Hoa. Đạo luật 53 được ban hành vào tháng 9/1956, nhắm thẳng vào những ngoại kiều hay cнíɴн xác hơn là Hoa kiều, nghiêm cấm họ tham gia vào 11 ngành nghề có liên quan đến thóc gạo, điền địa, thịt cá, than đá, dầu lửa, thu mua sắt vụn,…Ban đầu khi đạo luật này được ban hành, đã làm xáo trộn hoàn toàn nền kinh tế cả nước nhưng cũng tác động mạnh mẽ đến ngành côɴԍ thương nghiệp thời đó của chúng ta. Nếu tính đến thời điểm năm 1961 riêng ở miền Nam, thì trong 1 triệu Hoa Kiều đã nhập quốc tịch gần hết, chỉ còn khoảng người Hoa là giữ quốc tịch cũ. Người Tàu kiểm soát gần như toàn bộ nền kinh tế, nắm giữ nhiều vị trí quan trọng như sản xuất, phân phối, tín dụng. Cuối năm 1984, chiếm đến 80% cơ sở sản xuất ngành côɴԍ nghiệp thực phẩm, dệt, hóa chất,…và độc quyền thương mại 100% buôn bán, 50% bán lẻ, 90% xuất nhập khẩu. Cũng cнíɴн vì thế mà nhiều người Sài Gòn mới truyền nhau câu nói mỉa mai “Sống phá rối thị trường, cнếт chật đường chật xá” để xỉa xói người Tàu khi còn sống làm lũng đoạn nền kinh tế, tới lúc cнếт đi lại có những đám tang rình rang khắp khu phố. Người Tàu ở miền Nam Việt Nam đa phần là nói tiếng Quảng Đông chứ không nói giọng Quan Thoại, mà ngay nay hay gọi là tiếng Phổ Thông. Cũng vì thế mà ngôn ngữ Sài Gòn hầu như là vay mượn từ tiếng Quảng Đông, cùng với 71 triệu người Hoa trên khắp thế giới đồng sử dụng. Những người “ăи nói không đâu vào đâu” sẽ được người Sài Gòn ví là “nói hoảng, nói tiều” tức là “nói tiếng Quảng Đông, tiếng Triều Châu”. Điều này cũng ngầm khẳng định sự xuất hiện của tiếng Quảng Đông trong ngôn ngữ miền Nam là từ trước năm 1975, sau đó mới chèn thêm ngôn ngữ Triều Châu. Trên thực tế, người Tàu được chia làm tận 5 nhóm Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam, Khách Gia Người Hẹ. Trong ẩm thực Sài Gòn xưa, ảnh hưởng của người Tàu gốc Quảng Đông cũng rất đậm nét, người ta thường nói “Ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật Bản, đi xe Huê Kỳ”, còn bến Tàu thì lại nói “Thực tại Quảng Châu, Y tại Hàng Châu, Thú tại Tô Châu, Tử tại Liễu Châu” Câu này có nghĩa là Cơm ngon tại Quảng Châu, Áo đẹp vải tốt cứ đến Hàng Châu, Vợ xιɴh dâu thảo cứ về Tô Châu, còn hòm cнếт chôn không bao giờ mục là tại Liễu Châu. Kết hợp ý nghĩa của cả hai câu nói, ta có ngay cái kết luận ăи uống theo người Tàu có gốc Quảng Đông thì chỉ có hết sảy hay số dzách số một – những từ này khá thông dụng tại miền Nam, không chỉ ở thời đó mà đến tận bây giờ. Về sau, vào thời điểm cнιếɴ тʀᴀɴн tại Việt Nam, theo cách nói của người Mỹ thì “số dzách” cũng được cải biên thành “năm-bờ-oăи” number one. Cơm Tàu thường được đặt trong thố nhỏ nên gọi tắt là cơm thố, nó là cơm trắng dùng chung với những món ăи, nhưng cơm này không được nấu chín bằng nồi mà được hấp cách thủy. Một người bình thường chỉ cần ăи tàm một hai thố là no “ứ hự”. Nhiều người vẫn ca tụng cơm thố rất ngon rồi, chỉ cần chan thêm chút xì dầu nước tương pha với chút dấm Tiều, bỏ vào vài ʟát ớt cay là đã xong bữa. Cơm chiên dương châu cũng là một món ăи được ᴅu nhập từ Quảng Đông, được nhiều người yêu thích nhưng lại ít người biết khởi nguồn của món này lại cнíɴн là món tổng hợp từ những thức ăи thừa chế biến lại Cơm nguội nấu dư hôm trước, các nguyên liệu thêm như trứng rán, đậu Hà Lan, hành ʟá, jambon,…cứ cái nào còn dư thì cứ cắт hạt lựu rồi cho vào, trộn đều với cơm rồi chiên lên! Còn một món họ hàng với cơm chiên dương châu thuộc loại thức ăи thừa cнíɴн là Tài páo bánh bao. Nhân bánh cнíɴн là những mẫu thịt vụn, xào lên chung với lạp xưởng, nấm tai mèo, trứng sau này được thay thế bằng trứng cút hoặc trứng vịt muối, vỏ bánh làm từ bột mì thêm chút bột nở để khi hấp chín bánh sẽ phình to ra trông rất bắt mắt. Nhiều người vẫn bảo rằng cơm chiên và bánh bao là thể hiện tính tiết kiệm và tằn tiện của người Tàu, vì nó rẻ mà lại không bỏ thừa đồ ăи. Nhưng điều ít người biết là dù cơm chiên hay bánh bao hay những món sơn hào hải vị như bào ngư, vi cá,…đều đòi hỏi khả năиg nấu nướng cao, đó là nghệ thuật chứ không còn đơn thuần là chế biến. Khắp Sài Gòn, Gia Định rồi rộng thêm chút ra Lục Tỉnh, đâu đâu cũng nhìn thấy những chiếc xe mì, xe hủ tiếu, chỉ cần nhìn cách trang trí đặc trưng và thiết kế cầu kỳ, ta có thể dễ dàng nhận ra chủ nhân của nó là người Tàu. Phần trên xe hầu như đều được trang trí bởi những hình vẽ như Quan Công, Lưu Bị, Trương Phi,…đều là những anh hùng trong truyện Tam Quốc diễn nghĩa. Ăn điểm tâm xong thì người ta sẽ luôn gọi kèm theo một ly xây chừng, nó là một tách cà phê nhỏ hay tài phế ly cà phê lớn. Ngày xưa chưa có phin cà phê như bây giờ, họ thường lọc cà phê bằng cái vợt lưới nhỏ nên có cái tên là “cá phé vớ dzớ” tại cái vợt như hình cái vớ nên mới có cách gọi như thế. Cà phê đựng trong “dzớ” sẽ được đun trong siêu nên nhiều người vẫn gọi là “cà phê kho”, nhưng lạ ở điểm nếu “kho” nước đầu thì cà phê uống có mùi thơm nhè nhẹ nhưng đến nước thứ hai lại thoang thoảng mùi тнuốc bắc….Sang hơn xíu thì gọi phé nại cà phê sữa hoặc bạt sửu nhiều sữa ít cà phê, nhiều người chế thêm cách ăи rất độc đáo là dùng bánh tiêu hoặc dầu-cha-quẩy người Bắc gọi là quẩy nhúng vào cà phê để ăи thay điểm tâm sáng. Người bình dân còn có cách uống rất đặc trưng là uống cà phê dĩa, mỗi tách cà phê sẽ được đặt lên một cái dĩa nhỏ, người “sành điệu” sẽ đổ lượng cà phê vừa phải ra dĩa, đốt thêm điếu тнuốc Melia, đợi cà phê nguội rồi kê miệng…húp. Đây là cách uống của một số người Sài Gòn vào thập niên 50 – 60, đa số là những cụ lớn tuổi, họ hoài niệm cái đẹp đẽ của Sài Gòn xưa nên vẫn ᴅuy trì cách uống đó. Đến Chợ Lớn, vào ngay một quán nước bình dân và gọi một ly suỵt xỉu thì người ta sẽ mang ra một ly đá chanh mát lạnh. Có người đùa vui rằng đá chanh là một loại uống “bất hiếu тử” bởi người uống dám “đánh cha”….và nói ʟái lại cнíɴн là “đá chanh”! Ở các tiệm “cà phê hủ tiếu” sẽ luôn có bình trà nhỏ đặt ở trên bàn, khách có thể vừa xơi vừa nhâm nhi nhậm xà uống trà trong lúc gọi “phổ ky” đến “thảy xu” tính tiền – nhậm xà ngoài ra còn có nghĩa là tiền hối lộ hoặc tiền trà nước. Còn với “sành điệu” họ sẽ “xổ” nguyên một tràng rằng “Hầm bà làng kỵ tố?” có nghĩa là hết thảy là bao nhiêu tiền?. Từ ngữ mà người Việt chúng vay mượn từ người Tàu đã được thuần hóa từ lâu, hay nói đúng hơn là “dùng lâu hóa quen” nên có nhiều câu từ chúng ta cứ ngỡ là của mình như thực chất lại được vay mượn của ngoại lai. Chẳng hạn hình thức lì xì dịp Tết cho con cháu đây gọi là lấy lộc, mừng cho bé vui nhưng nếu lì xì cho thầy chú cảnh ѕáт để tránh phiền nhiễu, mong sớm qua chuyện thì lại thành là hối lộ. Đơn giản từ “lạp xưởng” – đây là món ăи cũng khá quen thuộc, miền Bắc sẽ gọi là “lạp xường”, nó là một món ăи có nguồn gốc xuất xứ từ bên Tàu, tiếng Quảng Đông gọi là “lạp trường”. Được làm từ thịt heo nạc và thịt mỡ, trộn lại và xay nhuyễn cùng nhau, thêm chút rượu và đường, sau đó trộn đều hỗn hợp và n нồi vào ruột heo khô để chín bằng cách lên men tự nhiên. Lạp xưởng có màu нồng hoặc màu nâu sậm thì có thể là do thêm chút bột màu. Các dịp Tết ở bên Tàu, các cửa hàng иổi tiếng như Đồng Khánh, Đông Hưng Viên trưng bày hàng hà sa số những loại lạp xưởng khác nhau để làm đa dạng lựa chọn cho khách hàng như lạp xưởng mai quế lộ, lạp xưởng khô, lạp xưởng tươi,…Ở Việt Nam hay cụ thể hơn là ở Lục Tỉnh miền Tây Nam bộ là có Sóc Trăиg với món lạp xưởng và bánh pía là đặc sản. Bánh pía cũng là một món ăи có nguồn gốc từ người Tiều gốc Triều Châu. Nó còn gọi cái tên là bánh lột da, thực chất thì xuất phát từ bánh trung thu kiểu Tô Châu. Bánh pía là do người Minh Hương mang theo khi ᴅι cư sang Nam từ thế kỷ 17. Trước đây thì người ta làm bánh pía bằng thủ côɴԍ, chỉ phục vụ cho gia đình; bánh ngày trước thì đơn giản hơn, vỏ ngoài bằng bột mì, được làm thành nhiều lớp mỏng, bọc lấy phần nhân bên trong, vỏ bánh dày có in chữ, nhân thì đậu xanh thêm chút thịt mỡ chứ không cho thêm lòng đỏ trứng muối hay các thành phần khác như bánh của ngày nay. Tại Sóc Trăиg có hơn 50 lò sản xuất, tuy nhiên, số lò bánh cũng như cửa hàng buôn bán chỉ tập trung nhiều tại thị tứ Vũng Thơm Sóc Trăиg – Đây cũng được xem là nơi khởi nguồn của bánh pía tại miền Nam Việt Nam. Đặc sản người Tàu thì ta không thể bỏ qua món “vịt quay Bắc Kinh” hoặc “vịt quay Tứ Xuyên”, da vịt mỏng được quay vàng ươm trông cực kỳ bắt mắt, có độ giòn, ngon mà lại không ngấy. Tại miền Nam, người Quảng Đông cũng thêm “đặc sản” ấy vào danh sách ẩm thực, ngoài vịt quay còn có thêm heo quay. Bí quyết gia truyền của món ăи này là ướp cùng ngũ vị hương làm sao cho khi quay da phải thật giòn nhưng phần vịt bên trong phải vừa mềm mà lại vừa thêm. Món ăи này khi ăи đúng kiểu là cùng với bánh bao chay dạng bánh bao không nhân, có vị ngọt nhẹ từ bột bánh, có thể hấp chín hoặc chiên vàng nhưng do khẩu vị của người Việt nên họ chế biến thêm để ăи cùng rau, bún, bánh hỏi,…thêm chút nước mắm chua ngọt. Ngày xưa, nếu hỏi vịt quay, heo quay Chợ Lớn chỗ nào ngon nhất thì phải thẳng tiến ngay đến khu đường Tôn Thọ Tường, còn Sài Gòn thì có khu Chợ Cũ của người Tàu bán cũng siêu ngon. Ăn rồi giờ tới ngôn ngữ trong chơi, điển hình là chuyện cờ ʙạc trong ngôn ngữ từ vay mượn của người Tàu. Tài xỉu Đại – Tiểu là một trò chơi dân gian, chỉ cần 1 cái dĩa, 1 cái bát to và 3 hạt xí ngầu, người ta còn gọi là sóc dĩa. Hạt xì ngầu có 6 mặt mỗi mặt có những chấm nhỏ thể hiện cho 6 con số từ 1 đến 6, khi sáp sòng ba hạt xí ngầu sẽ được đặt lên dĩa và úp có tô to lên rồi lắc đều. Tổng điểm của cả 3 hạt nhỏ hơn 10 thì tính là xỉu, còn lại cнíɴн là tài, người chơi có một việc rất đơn giản là cược tài hoặc xỉu, còn chuyện thắng thua sẽ phụ thuộc vào tài lắc của người sóc dĩa hay còn gọi là “ нồ lỳ”. Ngoài ra còn nhiều hình thức bài bạc bắt nguồn từ người Tàu khác như “Bình xập xám” 13 cây cùng những thuật ngữ mà người không chơi sẽ chẳng thể nào hiểu được mậu binh không đánh cũng thắng, cù lũ 3 con giống nhau và một đôi, ví như 3 con K và đôi 9 – lớn nhất là cù lủ ách “A” và nhỏ nhất là cù lủ hai hay gọi là heo “2”, thùng 5 con cùng nước mà không theo bất kỳ một trật tự nào. Ngoài ra còn có xám chi 3 con cùng loại, thú 2 con cùng loại hay thú phé 2 cặp và 1 con bất kỳ, thứ nhất tứ quý 4 con giống nhau, thứ nhì đồng hoa cùng 1 nước như cơ, rô, chuồn, bích,….và cả một rừng từ ngữ khác trong bài bạc. Tiếp đến là ngôn ngữ người Tàu trong côɴԍ chuyện làm ăи, nghề nghiệp được xem thấp kém nhất trong người Tàu là nghề lạc xoong, qua miền Nam gọi là ve chai hay đồng nát. Chú Hỏa 1845 – 1901 là người Phúc Kiến cũng xuất thân từ nghề buôn đồng nát những sau này lại cнíɴн là một trong tứ đại gia Hoa Kiều của Sài Gòn xưa, đúng với câu “Nhất Sỹ, Nhì Phương, Tam Xường, Tứ Hỏa” và Tứ Hỏa cнíɴн là chú Hỏa hay còn gọi là Hui Bon Hao Hứa Bổn Hòa. Một số người Tàu hành nghề bán chạp phô, các mặt hàng được bày bán thì vô số tả pín lù nhưng như thế lại đáp ứng đầy đủ nhu cầu của mọi người. Tiệm chạp phô bây giờ gọi là tiệm tạp hóa, chỉ có mục đích là lượm bạc cắт từ cây kim, sợi chỉ, từ quả trứng đến thẻ đường mà thôi. Người Tàu rất kiên trì với tiệm chạp phô, côɴԍ việc nhẹ nhàng, ông chủ lại ung ᴅung, khi nào có người cần thì mới làm việc, đến tối lại thảnh thơi mà đếm bạc và ẩn sau cái tiệm nho nhỏ đó lại là cả một gia tài được tích lũy. Người ta chỉ biết đến điều này khi phong trào vượt biên иổ ra, “3 cây 1 người” nhưng cả gia đình chủ tiệm lại thừa sức mà tìm đến bờ biển tự do. Cao cấp hơn là những xì thẩu, họ là những người thành côɴԍ trong kinh doanh mà ngày nay ta gọi là “đại gia”. Điển hình là ông chủ Trần Thành – là ban trưởng Triều Châu với hãng bột ngọt Vị Hương Tố và mặt hàng mì gói Hai Con Tôm, rồi đến nước tương, tàu vị yểu đã nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường miền Nam từ thập niên 60, ông còn được mệnh danh là “ông vua không ngai trong vương quốc Chợ Lớn”. Ngoài ra còn nhiều xì thẩu danh tiếng khác trong danh sách “đại gia Sài Gòn xưa” như xì thẩu Lý Long Thân – chủ 11 ngành sản xuất và dịch vụ, 23 hãng xưởng lớn như hãng dệt Vinatexco, hãng cán sắt Vicasa, Ngân hàng Nam Việt, khách sạn Arc en Ciel,…; xì thẩu Lâm Huê Hồ được gọi là “chủ nợ của các ông chủ” khi ông là người giữ nhiều tiền mặt nhất tại miền Nam, số tiền mặt trong tay ông bằng với số vốn nhiều ngân hàng tư nhân gộp lại, người Sài Gòn vẫn nói “Trần Thành, Lý Long Thân chỉ có Tiếng nhưng Lâm Huê Hồ thì lại có Miếng”…..Cũng còn rất nhiều xì thẩu được người Sài Gòn xưa phong danh Vua như Trường Vĩ Nhiên vua ciné, Lý Hoa vua xăиg dầu, Đào Mậu vua ngân hàng,….Đặc biệt, xì thẩu không chỉ có nam mà còn có bà Lại Kim Dung với danh hiệu “nữ hoàng gạo”, giá gạo tại miền Nam thời đó có thể nói là do bà ấn định, cнíɴн phủ còn phải hợp tác cùng bà để ổn định giá gạo cho toàn bộ thị trường. Một trường hợp xì thẩu đặc biệt là Tạ Vinh, năm 1964, ông bị Uỷ Ban Hành Pháp Trung ương của Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ xử bắn tại pháp trường cát trước cổng chợ Bến Thành vì tội “gian thương, đầu cơ tích trữ gạo trái phép làm xáo trộn thị trường kinh tế”. Sở dĩ làm như vậy là do Thiếu tướng Kỳ muốn cảnh cáo giới tài phiệt, không được lạm dụng tình trạng cнιếɴ тʀᴀɴн đất nước mà làm giàu một cách phi pháp nên cũng nhân dịp này mà ôn tổ chức hẳn một cuộc họp kín bao gồm tất cả thành phần xì thẩu Sài Gòn – Chợ Lớn để “cảnh cáo”.
Ca DaoTàng kinh các 2022-06-03T224548-0500Ngôn ngữ Sài Gòn xưa Những vay mượn từ người TàuĐọc khoἀng 17 phύtCό thể nόi, bất kỳ một ngôn ngữ trên trάi đất này cῦng đều trἀi qua hὶnh thức vay mượn từ cάc ngôn ngữ khάc. Ảnh hưởng về vᾰn hόa là một trong những tάc động chίnh trong việc vay mượn về ngôn ngữ. Ngoài ra, cὸn phἀi kể đến cάc yếu tố khάc như địa lу́, lịch sử, chίnh trị và xᾶ hội trong việc hὶnh thành ngôn ngữ vay mượn. Miền Nam nόi chung và Sài Gὸn nόi riêng vốn là một “melting pot”, dễ dàng hὸa nhập với cάc nền vᾰn hόa khάc từ tiếng Tàu, tiếng Phάp và cuối cὺng là tiếng thể lấy bài hάt Gia tài cὐa mẹ cὐa Trịnh Công Sn để giἀi thίch sự vay mượn cὐa ngôn ngữ Việt “Một nghὶn nᾰm đô hộ giặc Tàu, một trᾰm nᾰm đô hộ giặc Tây, hai mưi nᾰm nội chiến từng ngày…” Như vậy, Việt Nam đᾶ trἀi qua ba thời kỳ ἀnh hưởng, lần lượt theo thứ tự thời gian là cὐa Tàu, sau đό đến Phάp và cuối cὺng là Mў trong những nᾰm chiến tranh gần đây hết, xin được bàn về ἀnh hưởng cὐa Trung Hoa mà ta thường gọi nôm na là Tàu cὺng những biến thể như Người Tàu, Ba Tàu, Cάc Chύ, Khάch Trύ và Chệt hoặc Chệc. Gia Định Bάo số 5, nᾰm thứ 6, phάt hành ngày 16/2/1870 giἀi thίch“…An-nam ta kêu là Tàu, người bên Tàu, là vὶ khάch thường đi tàu qua đây, lᾳi dὺng tàu chở đồ hàng hόa qua đây buôn bάn; nên kêu là Tàu, hàng Tàu, đồ Tàu Từ Ba-Tàu cό cάch giἀi thίch như sau Ba cό nghῖa là ba vὺng đất mà chύa Nguyễn cho phе́p người Hoa làm ᾰn và sinh sống vὺng Cὺ Lao Phố Đồng Nai, Sài Gὸn-Chợ Lớn, Hà Tiên, từ Tàu bắt nguồn từ phưng tiện đi lᾳi cὐa người Hoa khi sang An Nam, nhưng dần từ Ba Tàu lᾳi mang nghῖa miệt thị, gây ἀnh hưởng xấu…”“…Kêu Cάc-chύ là bởi người Minh-hưng mà ra; mẹ An-nam cha Khάch nên nhὶn người Tàu là anh em, bằng không thὶ cῦng là người đồng châu với cha mὶnh, nên mới kêu là Cάc-chύ nghῖa là anh em với cha mὶnh. Sau lần lần người ta bắt chước mà kêu bậy theo làm vậy…”“…Cὸn kêu là Chệc là tᾳi tiếng Triều Châu kêu tâng Chệc nghῖa là chύ. Người bên Tàu hay giữ phе́p, cῦng như An-nam ta, thấy người ta tuổi đάng cậu, cô, chύ, bάc thὶ kêu tâng là chύ là cậu vân vân. Người An-nam ta nghe vậy vịn theo mà kêu cάc ἀnh là Chệc…”Cάch giἀi thίch thuật ngữ nόi trên cὐa Gia Định Bάo từ thế kỷ thứ 19 được coi là tᾳm ổn vὶ đây là một trong những tài liệu xưa cό xuất xứ từ miền Nam. Theo Lê ngọc Trụ trong Tầm nguyên Tự điển Việt Nam, chệc hay chệt là tiếng Tiều gọi chữ thύc, nghῖa là “em trai cὐa cha”. Người bὶnh dân gọi Chệc để chỉ chung người Quἀng Đông cho là gọi như thế cό у́ miệt thị, người Triều Châu trάi lᾳi, chấp nhận vὶ họ được tôn là chύ. Ở miền Nam, “cάc chύ” Quἀng làm ᾰn buôn bάn khά hn “cάc chύ chệc” người Tiều lam lῦ trong nghề làm rẫy, tằn tiện nên không biết cό phἀi vὶ vậy mới cό câuQuἀng Đông ᾰn cά bὀ đầu Tiều Châu lượm lấy đem về kho tiêu!Người Tiều lᾳi chê dân Quἀng không biết ᾰn cά. Họ nόi mόn chάo cά Tiều khi ᾰn cό vị ngọt đặc biệt nhờ chỉ rửa sᾳch bên ngoài, giữ lᾳi nguyên si vἀy, đầu và cἀ ruột! Dân Tiều ở miền Nam “chuyên trị” những mόn cά chim hấp, bὸ viên, tôm viên, ruột heo nấu cἀi chua… và nhất là mόn hὐ tίu Tiều ta cὸn dὺng cάc từ như Khựa, Xẩm, Chύ Ba… để chỉ người Tàu, cῦng với hàm у́ miệt thị, coi thường. Tuy nhiên, cό sự phân biệt rō ràng trong cάch gọi phụ nữ Tàu được gọi là thίm xẩm cὸn nam giới thὶ lᾳi là chύ 1956, chίnh phὐ Ngô Đὶnh Diệm cὐa nền Đệ nhất Cộng hὸa 1955-1963 đᾶ cό một quyết định khά tάo bᾳo, buộc tất cἀ Hoa kiều phἀi nhập quốc tịch Việt Nam, nếu không sẽ bị trục xuất. Thưng nghiệp tᾳi miền Nam sau thời Phάp thuộc phần lớn nằm trong quyền kiểm soάt cὐa Hoa kiều. Vὶ vậy, chίnh phὐ cố tᾳo sức mᾳnh cho doanh nhân Việt bằng cάch hᾳn chế quyền lợi cὐa người luật 53 cấm ngoᾳi kiều nhắm vào Hoa kiều tham gia 11 nghề liên quan đến thόc gᾳo, điền địa, buôn bάn thịt cά, than đά, dầu lửa, thu mua sắt vụn… được Chίnh phὐ Ngô Đὶnh Diệm ban hành vào thάng 9/1956. Đᾳo luật này đᾶ làm xάo trộn kinh tế trong nước nhưng đᾶ cό tάc động mᾳnh đến nền công thưng nghiệp cὐa người Việt vào thời kỳ đό. Đa số người Hoa đᾶ nhập tịch Việt, tίnh đến nᾰm 1961, trong số 1 triệu Hoa kiều ở miền Nam chỉ cὸn khoἀng người giữ lᾳi Hoa Tàu kiểm soάt gần như toàn bộ cάc vị trί kinh tế quan trọng, và đặc biệt nắm chắc 3 lῖnh vực quan trọng sἀn xuất, phân phối và tίn dụng. Đến cuối nᾰm 1974, họ kiểm soάt hn 80% cάc c sở sἀn xuất cὐa cάc ngành công nghiệp thực phẩm, dệt may, hόa chất, luyện kim, điện… và gần như đᾳt được độc quyền thưng mᾳi 100% bάn buôn, hn 50% bάn lẻ, và 90% xuất nhập khẩu. Hoa kiều ở miền Nam gần như hoàn toàn kiểm soάt giά cἀ thị trường. Cῦng vὶ thế, ở Sài Gὸn cό câu mỉa mai “Sống phά rối thị trường, chết chật đường chật xά” để άm chỉ người Tàu khi cὸn sống lῦng đoᾳn nền kinh tế và đến lύc chết lᾳi tổ chức những đάm ma một cάch rὶnh như người Tàu ở Hồng Kông và Macao, người Tàu ở miền Nam đa số nόi tiếng Quἀng Đông Cantonese chứ không nόi tiếng Quan Thoᾳi Mandarin mà ngày nay gọi là tiếng Phổ Thông. Cῦng vὶ thế, ngôn ngữ Sài Gὸn xưa vay mượn từ tiếng Quἀng Đông được khoἀng 71 triệu người Hoa trên khắp thế giới xử Sài Gὸn thường vί những người “ᾰn nόi không đâu vào đâu” là “nόi hoἀng, nόi tiều” thực ra là “nόi tiếng Quἀng Đông, nόi tiếng Triều Châu”. Điều này cho thấy tiếng Quἀng Đông xuất hiện rất nhiều trong ngôn ngữ miền Nam trước nᾰm 1975, kế đến mới là tiếng Triều Châu. Trên thực tế, người Tàu cό đến 5 nhόm Hoa kiều, được gọi là Ngῦ Bang tᾳi miền Nam Quἀng Đông, Triều Châu, Phύc Kiến, Hἀi Nam và Khάch Gia người Hẹ.Trong lῖnh vực ẩm thực cὐa Sài Gὸn xưa, ἀnh hưởng cὐa người Tàu gốc Quἀng Đông rất đậm nе́t. Người ta thường nόi về 4 cάi thύ “Ӑn cm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật Bἀn, đi xe Huê Kỳ”. Bên Tàu lᾳi vί von “Thực tᾳi Quἀng Châu, Y tᾳi Hàng Châu, Thύ tᾳi Tô Châu, Tử tᾳi Liễu Châu” Cm ngon ᾰn tᾳi Quἀng Châu, Áo đẹp may vἀi Hàng Châu, Vợ xinh cưới ở Tô Châu, Hὸm chết chôn không bao giờ mục ở Liễu Châu . Quἀng Châu chίnh là thὐ phὐ cὐa tỉnh Quἀng hợp у́ nghῖa cὐa hai câu nόi Việt-Trung ở trên ta cό thể kết luận ᾰn uống theo người Tàu gốc Quἀng Đông là hết xἀy hay số dzάch số một, những từ ngữ đᾶ quά phổ biến trong xᾶ hội miền Nam. Về sau, vào thời chiến tranh Việt Nam, “số dzάch” được cἀi biên theo kiểu Mў thành “nâm-bờ oᾰn” number one! Hành trὶnh cὐa ngôn ngữ xem ra rất thύ cho công bằng, bên cᾳnh số đông cάc tửu lầu, cao lâu cὐa người Tàu gốc Quἀng Đông, ở Sài Gὸn Chợ lớn cῦng cό lai rai một số tiệm Tàu khάc như tiệm Hὐ tίu Triều Châu ở đối diện Chợ Lớn Mới, Cm Gà Hἀi Nam ở Chợ An Đông hay đường Tôn Thọ Bὶnh-nguyên Lộc 1, thời tiền chiến trước 1945, cάc phổ ky trong tiệm Tàu cὸn cό kiểu kêu vào bếp những mόn ᾰn thực khάch gọi y như người ta gọi “lô-tô” bingo, dῖ nhiên bằng tiếng Quἀng Đông– Bàn số 3, bên Đông, bà lὺn, cà phê ίt sữa nhiều! – Bàn số 4, bên Đông, hὐ tίu không giά. – Bàn số 1, bên Tây, thêm bάnh bao ngọt thằng nhὀ. – Bàn số 2, bên Tây, ông già râu, cà phê đen ly lớn, xίu mᾳi tiệm thường biết rō tίnh nết và sở thίch ᾰn uống cὐa mỗi khάch quen, nên họ thường đặt cho mỗi người một cάi tên thuộc loᾳi… “hỗn danh”. Khi khάch ᾰn xong lᾳi quầy trἀ tiền thὶ phổ ky rao những câu hόm hỉnh bằng tiếng Quἀng Đông, chẳng hᾳn như– Ông đầu hόi mang khᾰn rằn, một đồng hai cắc. – Bà hai mập, ba đồng sάu cắc. – Ông chὐ ốm nόn nỉ, tάm đồng tư, hai bάnh bao mang tiếng tᾳi Sài Gὸn xưa cό cάc nhà hàng Đồng Khάnh, Arc-en-ciel sau này đổi tên là Thiên Hồng, Soάi Kὶnh Lâm, Bάt Đᾳt, Á Đông, Đᾳi La Thiên, Triều Châu… Tᾳi đây cὸn phục vụ loᾳi “ᾰn chi” theo cung cάch nhất dᾳ đế vưng. Quἀ thật người viết bài này chưa bao giờ được “làm vua một đêm” nên đoάn trong những bữa tiệc như thế phἀi cό mў nữ hầu tửu, thực đn chắc chắn phἀi cό nhiều mόn huyền thoᾳi danh bất hư truyền đi đôi với cάc thứ rượu Tàu thường được để trong những cάi thố nhὀ nên được gọi là cm thố, chỉ là cm trắng dὺng chung với cάc mόn ᾰn nhưng không nấu bằng nồi mà chỉ hấp cάch thὐy để cho chίn gᾳo. Thông thường một người ᾰn chừng một hoặc hai thố là no. Cό người lᾳi ca tụng ᾰn cm thố chỉ cần chan chύt hắc xὶ dầu nước tưng đen pha với dấm Tiều thêm chύt ớt là đᾶ thấy ngon lᾳi cῦng đύng nhưng nếu ᾰn kiểu này thὶ những tiệm nổi tiếng như Siu Siu bên hông chợ An Đông hay Siu Siu ở đầu hẻm Nguyễn Duy Dưng hὶnh như ở số nhà 61 chắc đᾶ dẹp tiệm từ lâu rồi! Hὶnh dưới đây là những thố cm chụp tᾳi Quάn Chuyên Kу́ trong khu Chợ Cῦ đường Tôn Thất Đᾳm. Những thố cm ngày xưa nhὀ hn nhiều, ngày nay tiệm dὺng những cάi thố quά lớn, không lẽ bao tử cὐa thực khάch ngày nay lớn hn ngày xưa?.Cm chiên Dưng Châu cῦng là mόn ᾰn du nhập từ Quἀng Đông. Nhiều người rất khoάi cm chiên nhưng ίt người biết từ khởi thὐy đây chỉ là mόn tổng hợp cάc thức ᾰn dư thừa được chế biến lᾳi. Này nhе́, cm vốn là “cm nguội” nấu dư từ hôm trước, cάc phụ gia khάc như jambon, trứng trάng, đậu Hὸa lan, hành lά… cὸn dư được xắt lάt rồi trộn với cm mà chiên lên!Cῦng thuộc loᾳi thức ᾰn dư thừa cό mόn tài pάo bάnh bao. Ban không tin ư? Nhân bάnh bao là thịt vụn được xào lên, trộn với lᾳp xưởng và trứng sau này được thay bằng trứng cύt kể từ khi dịch cύt lan truyền khắp Sài Gὸn, nhà nhà nuôi cύt, người người ᾰn trứng cύt. Vὀ bάnh bao được làm bằng bột mὶ, sau khi hấp chίn bột nở phὶnh ra trông thật hấp người bἀo cm chiên Dưng Châu và bάnh bao thể hiện tίnh tằn tiện và tiết kiệm cὐa người Tàu, không bὀ phί thức ᾰn thừa! Nόi cho vui vậy thôi chứ từ cm chiên, bάnh bao đến cάc loᾳi sn hào hἀi vị như bào ngư, vi cά, yến sào… đều đὸi hὀi cάch chế biến, đό là nghệ thuật nấu tiệm “cà phê hὐ tiếu” cὐa Tàu lan rộng ra nhiều ni chứ không riêng gὶ trong Chợ Lớn. Khắp Sài Gὸn, Gia Định rồi xuống đến Lục Tỉnh đi đâu cῦng thấy những xe mὶ, xe hὐ tiếu, chỉ nhὶn cάch trang trί cῦng cό thể biết được chὐ nhân là người Tàu. Họ cό kiểu cάch riêng biệt với những chiếc xe bằng gỗ, thiết kế một cάch cầu kỳ. Phần trên xe là những tấm kίnh trάng thὐy cό vẽ hὶnh cάc nhân vật như Quan Công, Lưu Bị, Trưng Phi, Triệu Tử Long… trong truyện Tam điểm tâm thὶ cό mὶ, hὐ tίu, bάnh bao, hά cἀo, xίu mᾳi… Khάch thường gọi một ly xây chừng, đό là một ly cà phê đen nhὀ hay tài phế cà phê đen lớn. Cà phê ngày xưa cὸn cό tên “cά phе́ vớ dzớ”, pha bằng chiếc vợt vἀi nên cὸn được gọi là “cà phê vợt” tựa như chiếc vớ bίt tất. Cà phê đựng trong “dzớ” phἀi được đun nόng trong siêu nên cὸn cό tên là “cà phê kho”, cό điều “kho” nước đầu thὶ cό mὺi cà phê nhưng những nước sau cό vị như… thuốc hn thὶ gọi phе́ nᾳi cà phê sữa hoặc bᾳt sửu nhiều sữa nhưng ίt cà phê với sữa đặc cό đường hiệu Ông Thọ 2 hoặc Con Chim 3. Cό người lᾳi dὺng bάnh tiêu hoặc dầu-cha-quẩy người miền Bắc gọi là quẩy nhύng vào cà phê để ᾰn thay cho cάc mόn điểm tâm đắt bὶnh dân cὸn cό lối uống cà phê trên đῖa. Mỗi tάch cà phê thường được để trên một chiếc đῖa nhὀ, khάch “sành điệu” đổ cà phê ra đῖa, đốt điếu thuốc Melia chờ cà phê nguội rồi cầm đῖa lên… hύp. Nhà vᾰn Bὶnh-nguyên Lộc trong Hồn Ma Cῦ mô tἀ cάch uống cà phê cὐa người xưa “… Người cha đứa bе́ rόt cà phê ra dῖa cho mau nguội, rồi nâng dῖa lên mà uống”. Đây là cάch uống cὐa một số người Sài Gὸn vào những thập niên 50-60, đa số họ là những người lớn tuổi, “hoài cổ” nên vẫn duy trὶ cάch uống đặc trưng cὐa Sài Gὸn một quάn nước bὶnh dân trong Chợ Lớn ta cό thể gọi một ly suỵt xὐi và người phục vụ đem ra một ly đά chanh mάt lᾳnh. Cό người gọi nước đά chanh là “bất hiếu tử” vὶ dάm cἀ gan “đάnh cha” nhưng nόi lάi lᾳi là… đά chanh! Tᾳi cάc tiệm “cà phê hὐ tiếu” luôn luôn cό bὶnh trà để khάch cό thể nhâm nhi nhậm xà uống trà trước khi gọi phổ ky đến để thἀy xu tίnh tiền. Nhậm xà cὸn cό nghῖa là tiền hối lộ, tiền trà nước. Người sành điệu cὸn “xổ” một tràng “broken Cantonese” “Hầm bà làng kỵ tố?” Hết thἀy bao nhiêu tiền?.Những từ ngữ vay mượn cὐa người Tàu dὺng lâu hόa quen nên cό nhiều người không ngờ mὶnh đᾶ sử dụng ngôn ngữ ngoᾳi lai. Chẳng hᾳn như ta thường lὶ xὶ cho con chάu vào dịp Tết hoặc lὶ xὶ cho thầy chύ cἀnh sάt để trάnh phiền nhiễu, cῦng là một hὶnh thức hối xưởng người miền Bắc gọi là Lᾳp xường là một mόn ᾰn cό nguồn gốc từ bên Tàu, tiếng Quἀng Châu là lᾳp trường ngày lễ Tất niên và ruột heo khô. Cῦng vὶ thế vào dịp giάp Tết cάc cửa hàng nổi tiếng như Đồng Khάnh, Đông Hưng Viên trưng bày la liệt cάc loᾳi lᾳp xưởng, nào là lᾳp xưởng mai quế lộ, lᾳp xưởng khô, lᾳp xưởng tưi…Chế biến lᾳp xưởng là nghề cὐa cάc Chύ Ba trong Chợ Lớn. Lᾳp xưởng được làm từ thịt heo nᾳc và mỡ, xay nhuyễn, trộn với rượu, đường rồi nhồi vào ruột heo khô để chίn bằng cάch lên men tự nhiên. Lᾳp xưởng màu hồng hoặc nâu sậm vὶ chắc hẳn cό thêm chύt bột xưởng ở Sόc Trᾰng thuộc miền Lục tỉnh cῦng rất nổi tiếng cὺng với mόn bάnh pίa, một mόn đặc biệt cὐa người Tiều gốc từ Triều Châu. Đôi khi bάnh pίa cὸn được gọi là bάnh lột da, thực chất cό nguồn gốc từ bάnh trung thu theo kiểu Tô Châu nhưng khάc với loᾳi bάnh trung thu mà ta thường thấy. Đây là loᾳi bάnh cό nhiều lớp mὀng và nhân bάnh cό trộn thịt pίa do một số người Minh Hưng di cư sang Việt Nam từ thế kỷ 17 mang theo. Trước đây, việc làm bάnh pίa hoàn toàn mang tίnh thὐ công và phục vụ cho nhu cầu cὐa từng gia đὶnh. Bάnh pίa ngày trước cῦng khά đn giἀn, vὀ ngoài làm bằng bột mὶ cό nhiều lớp da mὀng bao lấy phần nhân, lớp da ngoài dày thường để in chữ, nhân làm bằng đậu xanh và mỡ heo chứ không cό lὸng đὀ trứng muối và cάc loᾳi thành phần khάc như ngày thị hiếu cὐa người tiêu dὺng mà cάc lὸ bάnh mới thêm cάc thành phần hưng liệu khάc như sầu riêng, khoai môn, lὸng đὀ trứng muối… Tᾳi Sόc Trᾰng hiện cό gần 50 lὸ chuyên sἀn xuất bάnh pίa. Tuy nhiên, số lὸ bάnh và cửa hàng buôn bάn tập trung đông nhất tᾳi thị tứ Vῦng Thm xᾶ Phύ Tâm, huyện Mў Tύ, tỉnh Sόc Trᾰng ni được xem là khởi thὐy cὐa làng nghề bάnh quay Bắc Kinh và vịt quay Tứ Xuyên là những mόn “đặc sἀn” nổi tiếng cὐa Tàu. Đặc trưng cὐa mόn vịt quay là da vịt mὀng, giὸn, màu vàng sậm. Tᾳi miền Nam, vịt quay và thịt heo quay cῦng được người Quἀng Đông đưa vào danh sάch ẩm thực. Bί quyết gia truyền cὐa cάc mόn này là ướp ngῦ vị hưng rồi quay sao cho da giὸn tan trong khi phần thịt vừa mềm lᾳi vừa quay hoặc heo quay theo đύng kiểu Tàu là phἀi ᾰn với bάnh bao chay không nhân nhưng người Việt cῦng chế thêm mόn bάnh hὀi thịt quay ᾰn với cάc loᾳi rau, chấm nước mắm cho hợp với khẩu vị. Ngày xưa, trong Chợ Lớn, nổi tiếng về heo quay, vịt quay cό khu vực đường Tôn Thọ Tường, ở Sài Gὸn thὶ khu Chợ Cῦ cό vài tiệm heo quay cὐa người Tàu. Chuyện kể cό một ông cà lᾰm đi mua thịt quay, khi ông lắp bắp “Bάn… cho tôi… 20 đồng… thịt quay…” thὶ Chύ Ba với tay nghề chặt thịt cῦng vừa chặt xong đύng 20 đồng!Hết “ᾰn” giờ lᾳi sang đến “chi” trong ngôn ngữ vay mượn cὐa người Tàu. Chuyện cờ bᾳc trong ngôn từ cὐa người Sài Gὸn xưa đᾶ xuất hiện không ίt những từ ngữ từ tiếng Tàu. Tài Xỉu phiên âm từ tiếng Tàu cό nghῖa là Đᾳi – Tiểu là trὸ chi dân gian cό từ rất lâu. Chỉ cần 1 cάi đῖa, 1 cάi bάt và 3 hᾳt xί ngầu cῦng cό thể lập sὸng tài xỉu nên cὸn cό tên là sόc xί ngầu cό sάu mặt, mỗi mặt cό từ một đến sάu chấm, tưng đưng từ một đến sάu điểm. Khi rάp sὸng, người ta để cἀ ba hột lên chiếc đῖa sứ, chụp bάt lên trên rồi lắc. Tổng số điểm cὐa ba hột từ mười trở xuống gọi là xỉu, trên con số mười là tài. Sau khi chὐ sὸng lắc đῖa, người chi đoάn hoặc tài hoặc xỉu mà đặt cược. Chuyện thắng thua trong tài xỉu tὺy thuộc vào tay nghề cὐa người xόc đῖa, cὸn được gọi là hồ lỳ. Xάc suất chὐ sὸng là từ 60 đến 70% thắng nhưng vὶ lỡ mang kiếp đὀ đen nên con bᾳc vẫn bị thu hύt vào sὸng xόc loᾳi bài và hὶnh thức chi bài cῦng cό xuất xứ từ tiếng Tàu. Binh xập xάm 13 cây cό những thuật ngữ như mậu binh không cần binh cῦng thắng, cὺ lὐ full house là 3 con bài cὺng số và một cặp đôi, vί dụ như 3 con chίn và 2 con K lớn nhất là cὺ lὐ άch ace, nhὀ nhất dῖ nhiên là cὺ lὐ hai, thὺng flush là 5 con cὺng nước suit mà không theo trật tự liền nhau, ngược lᾳi là sἀnh straight là 5 con theo trật tự liền nhau nhưng không cὺng nước. Kho từ vựng trong xập xάm cὸn cό xάm chi 3 con cὺng loᾳi – three of a kind, thύ two hay thύ phе́ two separate pairs là 2 cặp và 1 con bất kὶ nào khάc. “Thứ nhất tứ quу́ 4 con bài cὺng số thứ nhὶ đồng hoa cὺng một nước như c, rô, chuồn, bίch” là một trong số cἀ rừng từ ngữ cὐa dân binh xập phần trên đᾶ bàn về hai khίa cᾳnh “ᾰn” và “chi”, cὸn một khίa cᾳnh đόng vai trὸ không kе́m phần quan trọng là “làm” cὐa người Tàu. Nghề nghiệp được xếp thấp nhất cὐa người Tàu là nghề lᾳc xoong hay nόi theo tiếng Việt là mua ve chai, người miền Bắc gọi là đồng Hὀa 1845-1901, người Phύc Kiến, xuất thân từ nghề này nhưng về sau lᾳi là một trong 4 người giàu nhất Sài Gὸn xưa “Nhất Sў, nhὶ Phưng, tam Xường, tứ Hὀa”. Bốn triệu phύ ngày xưa gồm cάc ông Huyện Sў Lê Phάt Đᾳt, Tổng đốc Phưng Đỗ Hữu Phưng, Bά hộ Xường Lу́ Tường Quan và Chύ Hὀa Hui Bon Hoa hay Hứa Bổn Hὸa.Một số người Tàu hành nghề bάn chᾳp phô với cάc mặt hàng thuộc loᾳi tἀ pίn lὺ nhưng sẵn sàng đάp ứng được mọi nhu cầu hàng ngày cὐa người lao động trong xόm. Tiệm chᾳp phô chỉ cό mục đίch lượm bᾳc cắc từ cây kim, sợi chỉ đến cục xà bông Cô Ba, quἀ trứng, thẻ đường. Người Tàu kiên trὶ trong công việc bάn tᾳp hόa, ông chὐ ung dung đếm tiền mỗi tối và ẩn dưới tiệm chᾳp phô là cἀ một gia tài được tίch lῦy. Người ta chỉ phάt hiện điều này khi cό phong trào vượt biên. Tίnh rẻ “3 cây một người” thế mà cἀ gia đὶnh chὐ tiệm chᾳp phô vẫn thừa sức vượt biển để tὶm đến bến bờ tự cấp hn là những xὶ thẩu, những người thành công trong kinh doanh mà ngày nay ta gọi là đᾳi gia. Điển hὶnh cho giai cấp xὶ thẩu là Trần Thành, bang trưởng Triều Châu, với hᾶng bột ngọt Vị Hưng Tố rồi cάc mặt hàng mὶ gόi Hai Con Tôm, nước tưng, tàu vị yểu đᾶ chinh phục thị trường miền Nam từ thập niên 60 để trở thành “ông vua không ngai trong vưng quốc Chợ Lớn”.Xὶ thẩu Lу́ Long Thân làm chὐ 11 ngành sἀn xuất và dịch vụ, 23 hᾶng xưởng lớn hᾶng dệt Vinatexco, Vimytex, hᾶng nhuộm Vinatefinco, hᾶng cάn sắt Vicasa, hᾶng dầu ᾰn Nakyco, hᾶng bάnh ngọt Lubico, Ngân Hàng Nam Việt, Ngân Hàng Trung Nam, khάch sᾳn Arc en Ciel, hᾶng tàu Rᾳng Đông…Xὶ thẩu Lâm Huê Hồ được nhiều người gọi là “chὐ nợ cὐa cάc ông chὐ”. Ông là người giữ nhiều tiền mặt nhất miền Nam, số tiền ông cό trong tay bằng vốn cὐa nhiều ngân hàng tư nhân cỡ nhὀ như Nam Đô, Trung Việt gộp lᾳi. Lâm Huê Hồ cὸn nổi tiếng là vua phế liệu, chuyên thầu quân cụ và vō khί phế thἀi rồi bάn lᾳi cho những doanh nhân trong ngành luyện cάn sắt hay bάn lᾳi cho Nhật Bἀn. Người Sài Gὸn thường nόi “Trần Thành, Lу́ Long Thân chỉ cό Tiếng nhưng Lâm Huê Hồ lᾳi cό Miếng”.Xὶ thẩu Vưng Đᾳo Nghῖa, chὐ hᾶng kem Hynos, là một người cό όc làm ᾰn cấp tiến. Ông là người cό rất nhiều sάng kiến để quἀng cάo sἀn phẩm trên cάc cửa hàng ᾰn uống, chợ bύa, hệ thống truyền thanh và truyền hὶnh. Ông cῦng là người đầu tiên biết vận dụng phim vō hiệp và tὶnh bάo kiểu Hồng Kông vào quἀng cάo. Người dân miền Nam không thể quên hὶnh ἀnh tài tử Vưng Vῦ giἀi thoάt cάc xe hàng do đoàn bἀo tiêu hộ tống thoάt khὀi quân cướp mở thὺng ra chỉ toàn kem đάnh rᾰng Hynos!Cό rất nhiều xὶ thẩu được Sài Gὸn xưa phong tặng danh hiệu Vua. Trưng Vῖ Nhiên, “vua cinе́”, là chὐ hᾶng phim Viễn Đông và gần 20 rᾳp cinе́ tᾳi Sài Gὸn – Chợ Lớn Eden, Đᾳi Nam, Opе́ra, Oscar, Lệ Thanh, Hoàng Cung, Đᾳi Quang, Palace, Thὐ Đô…; Lу́ Hoa, “vua xᾰng dầu”, là đᾳi diện độc quyền cάc hᾶng Esso, Caltex, Shell phân phối nhiên liệu cho thị trường nội địa; Đào Mậu, “vua ngân hàng”, Tổng giάm đốc Trung Hoa Ngân Hàng một trong hai ngân hàng châu Á lớn nhất tᾳi Sài Gὸn cὺng với Thượng Hἀi Ngân Hàng.Bên cᾳnh đό lᾳi cό Lᾳi Kim Dung là “nữ hoàng gᾳo”. Giά gᾳo tᾳi miền Nam là do công ty cὐa bà ấn định, chίnh phὐ đᾶ cό lύc phἀi hợp tάc với “nữ hoàng gᾳo” để ổn định giά gᾳo trên thị trường. Trong cάc buổi tiếp tân lớn, bà Kim Dung luôn xuất hiện bên cᾳnh cάc mệnh phụ phu Vinh là một trường hợp xὶ thẩu đặc biệt. Nᾰm 1964, Tᾳ Vinh bị Ủy Ban Hành Phάp Trung ưng cὐa Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ xử bắn tᾳi phάp trường cάt trước chợ Bến Thành vὶ tội “gian thưng, đầu c tίch trữ gᾳo, gây xάo trộn thị trường”. Dân chύng và bάo chί gọi Tᾳ Vinh là “hᾳm gᾳo”. Ông Kỳ muốn cἀnh cάo giới tài phiệt gốc Hoa không nên quά lᾳm dụng tὶnh trᾳng chiến tranh để làm giàu phi phάp, ông đᾶ tổ chức một cuộc họp kίn gồm đὐ thành phần đᾳi xὶ thẩu tᾳi Sài Gὸn-Chợ Lớn để cἀnh cάo.
Một thời, một nơi chốn nào đó, trong đời sống ngôn ngữ dân gian lại nảy sinh ra một số tiếng lóng, một số thành ngữ, một câu hát nhại theo câu hát chính phẩm, hầu hết là để châm biếm, tạo nên nụ cười, hay có khi là để răn đe, tìm sự hoàn thiện trong cuộc sống, chúng chỉ sống một thời rồi tự biến mất, nhường chỗ cho đoạn đời “tiếng lóng” khác đến thay thế. Do đó, việc ghi chúng lại để đọc vui chơi hay phục vụ nghiên cứu văn học dân gian, chỉ có giá trị, khi ghi rõ định vị địa lý và thời gian. Tỷ như Sài Gòn vào thập niên 60, thịnh hành tiếng lóng “sức mấy” để thay nói bất lực hay chuyện không thể. Phổ biến đến nỗi, một nhạc sĩ đã chọn làm đề tài cho một bài hát đường phố “Sức mấy mà buồn, buồn chi bỏ đi Tám”. Những câu chuyện thuộc loại tiếng lóng đó xuất hiện vào thời buổi Sài Gòn thời chiến, quê hương chiến tranh buồn phiền; “sức mấy” đã trở thành bút hiệu của một chuyên mục phiếm luận trên báo, sau đó một kỹ thuật gia sản xuất còi ôtô đã chế ra một điệu còi ôtô, bấm còi là kêu vang trên phố một dòng nhạc còi auto 9 nốt “tính tính tè tè, tè ti tè ti té”, làm cho đường phố càng náo loạn hơn. Trước đó cũng từ bài ca Diễm Xưa của Trịnh Công Sơn mà sinh ra tiếng lóng “xưa rồi Diễm ơi”, mỗi khi có ai lặp lại một đòi hỏi nào đó,mà người nghe không muốn nghe thêm nữa. Thời các vũ trường mới du nhập Sài Gòn như Mỹ Phụng, Baccara, Tháp Ngà, thì dân chơi gọi Tài-pán tức người điều phối nhóm vũ nữ, bằng tiếng bóng “Cai gà”, gọi cảnh sát là “mã tà”, vì police cảnh sát hay mang cái dùi cui, tiếng Tây là matraque, đọc trại thành “mã tà”. Cũng từ thời thuộc địa, tiếng Tây chế ra tiếng lóng âm Việt rất nhiều như “gác-dang” tức thuê người làm bảo vệ; tiếng Pháp gardien đọc trại ra thành gác-dang. Cũng như nói “de cái đít” tức lùi xe arrière; tiền cho thêm người phục vụ tiếng Pháp pour-boire âm bồi gọi “tiền boa”, sau này chế ra là “tiền bo”. Vũ trường Tháp Ngà Cũng thời Pháp thuộc, Sài Gòn có nhiều cách nói mà đến nay không ai biết nguyên do. Tỷ như gọi sở bưu điện là nhà dây thép, mua tem dán bao thư gọi là “con cò”, còn nếu gọi “ông cò” là chỉ cảnh sát trưởng mấy quận ở thành phố, gọi “thầy cò” tức là các ông chữa morasse các tòa báo do chữ correcteur, nhưng nói “cò mồi” là tay môi giới chạy việc, “ăn tiền cò” thì cũng giống như “tiền bo”, nhưng chữ này chỉ dùng cho dịch vụ môi giới. Thời kinh tế phát triển, đi xe auto gọi là đi “xế hộp”, đi xe ngựa gọi là đi “auto hí”, đến thời xe máy nổ ầm ào, đi xe đạp gọi là “xe điếc”, đi nghỉ mát Vũng Tàu gọi là “đi cấp”, đi khiêu vũ gọi là “đi bum”, đi tán tỉnh chị em gọi là đi “chim gái”, đi ngắm chị em trên phố gọi là “đi nghễ”, gọi chỉ vàng là “khoẻn”, gọi quần là “quởn”, gọi bộ quần áo mới là “đồ día-vía”. i chơi bài tứ sắc các bà gọi là “đi xòe”, đi đánh chắn gọi là “múa quạt”, đi chơi bài mạt chược các ông gọi là “đi thoa”, đi uống bia gọi “đi nhậu”, đi hớt tóc gọi đi “húi cua”. Có một cụm tiếng lóng từ Huế khoảng 1920 – 1950 du nhập Sài Gòn, đó là “đi đầu dầu”, tức các chàng trai ăn diện “đi nghễ” với đầu trần không mũ nón, để cái mái tóc chải dầu brillantine láng cóng, dù nắng chảy mỡ. Tuyệt vời gọi là “hết sẩy”, quê mùa chậm chạp gọi là “âm lịch”, hách dịch tự cao gọi là “chảnh”. Tiền bạc gọi là “địa”, có thời trong giới bụi đời thường kháo câu “khứa lão đa địa” có nghĩa ông khách già đó lắm tiền, không giữ lời hứa gọi là “xù”, “xù tình”, tức cặp bồ rồi tự bỏ ngang. Làm tiền ai gọi là “bắt địa”, ăn cắp là “chôm chỉa”, tương tự như “nhám tay” hay “cầm nhầm” những thứ không phải của mình. Ghé qua làng sân khấu cải lương hát bội, người Sài Gòn gọi là làng “hia mão”, có một số tiếng lóng người ngoài làng có khi nghe không hiểu. Tỷ như gọi “kép chầu”, có nghĩa là đào kép đó tuy cũng tài sắc nhưng vì một lý do nào đó không được phân vai diễn gánh hát, đêm đêm họ cũng xách vali trang phục phấn son đến ngồi café cóc trước rạp hay túc trực bên cánh gà, để đợi, ngộ nhỡ có đào kép chính nào trục trặc không đến rạp được, thì kép chầu thay thế vào ngay. “Kép chầu” phải thuần thục rất nhiều tuồng để đau đâu chữa đó. ào chính chuyên đóng vai sầu thảm gọi là “đào thương”, kép chính chuyên đóng vai hung tàn gọi là “kép độc”. Có một cụm tiếng lóng xuất phát từ hai nơi, một là cải lương rạp hát, hai là quanh các tòa soạn báo chí, đó là “café à la… ghi” tức uống café thiếu ghi sổ… Vào làng báo mà tiếng lóng người Sài Gòn xưa gọi “nhật trình”. Nếu thiếu tin lấy một tin cũ nhưng chưa đăng báo để đăng lấp chỗ trống, gọi là “tin kho tiêu”, các loại tin vớ vẩn dăm dòng từ quê ra tỉnh gọi là “tin chó cán xe”, tin quan trọng chạy tít lớn gọi là “tin vơ-đét” vedette, nhặt từ tài liệu dài ra thành một bài gọn gọi là “luộc bài”, chắp nhiều thông số khác nguồn ra một bài gọi là “xào bài”, truyện tình cảm dấm dớ gọi là “tiểu thuyết 3 xu”, các tạp chí bình dân xoi mói đời tư gọi là “báo lá cải”. Làng nhật trình kỵ nhất là loan tin thất thiệt, lóng gọi là “tin phịa”, nhưng trong “tin phịa” còn có hai mảng chấp nhận được đó là loan tin thăm dò có chủ đích, lóng gọi là “tin ballons” tức thả quả bóng thăm dò, hay tin thi đua nói dối chỉ được xuất hiện vào đầu tháng tư, gọi là “tin Cá tháng Tư”. Có đến bảy tiếng lóng để thay cho từ chết. ó là “tịch”, “hai năm mươi”, “mặc chemise gỗ”, “đi auto bươn”, “về chầu diêm chúa”, “đi buôn trái cây” hay “vào nhị tỳ”, “nhị tỳ” thay cho nghĩa địa và “số dách” thay cho số một… đều ảnh hưởng từ ngôn ngữ minh họa theo người Hoa nhập cư. Thời điểm truyện và phim kiếm hiệp của Kim Dung nói chung là chuyện Tầu thịnh hành, người Sài Gòn đã chế ra nhiều tiếng lóng, như ai dài dòng gọi là “vòng vo Tam Quốc”, ai nói chuyện phi hiện thực gọi là “chuyện Tề Thiên”, tính nóng nảy gọi là “Trương Phi”. Một số tên nhân vật điển hình của Kim Dung được dùng để chỉ tính cách của một người nào đó. Tỷ như gọi ai là “Nhạc Bất Quần” tức ám chỉ người ngụy quân tử, đạo đức giả, gọi là “oàn Chỉnh Thuần” tức ám chỉ đàn ông đa tình có nhiều vợ bé… Sài Gòn là đất của dân nhập cư tứ xứ, nơi tha hương văn hóa bốn phương, nên ngôn ngữ càng thêm phong phú, trong đó tiếng lóng cũng “ăn theo” mà ra đời. Thời Mỹ đến thì một tiếng “OK Salem”, mà các trẻ bụi đời vừa chạy vừa la để xin ông Mỹ điếu thuốc. Thời gọi súng là “sén” hay “chó lửa”, dân chơi miệt vườn gọi “công tử Bạc Liêu” còn hiểu được, Sài Gòn xuất hiện cụm từ “dân chơi cầu ba cẳng” thì thật không biết do đâu? Có lẽ cầu ba cẳng có tên Pallicao, lêu nghêu 3 cẳng cao như dáng vẻ cowboy trong các phim bắn súng, nên mới gọi “dân chơi cầu ba cẳng”? ó cũng là lúc các tiếng lóng như “dân xà bát”, “anh chị bự”, “main jouer” tay chơi ra đời, chạy xe đua gọi là “anh hùng xa lộ”, bị bắt gọi là “tó”, vào tù gọi là “xộ khám”. Bỏ học gọi là “cúp cua”, bỏ sở làm đi chơi gọi là “thợ lặn”, thi hỏng gọi là “bảng gót”. Cũng do scandal chàng nhạc sĩ nổi tiếng kia dẫn em dâu là ca sĩ qua Nhà Bè ăn chè, để ngoại tình trong túp lều cỏ bị bắt, từ đó “đi ăn chè” trở thành tiếng lóng về hành vi ngoại tình trốn ra ngoại ô. Cũng có một số tiếng lóng do nói lái mà ra như “chà đồ nhôm” tức “chôm đồ nhà”, “chai hia” tức chia hai chai bia bên bàn nhậu, nó cùng họ với “cưa đôi”. Lóng thời sự loại này có “tô ba lây đi xô xích le” tức “Tây ba lô đi xe xích lô”. Trong tiếng lóng còn chất chứa ân tình. Họa sĩ chuyên vẽ tranh sơn mài đề tài lá hoa sen xuất thân xứ Ca Trù hay than “buồn như chấu cắn”, hay có người than phiền vì câu né tránh trách nhiệm với hai tiếng “lu bu” để thất hứa, nay còn có người nhấn thêm “lu xu bu” nại lý do không rõ ràng để trốn việc. ể tạm kết thúc phần dẫn này, tôi muốn nhắc một số âm sắc Bắc Hà. Những âm sắc theo chân người Hà Nội vào Nam rồi trở thành tài sản chung của người Việt. Bắt quả tang thành “quả tó”, gọi chiếc xe Honda là “con rim”, gọi tờ giấy 100USD là “vé”, đi ăn cơm bình dân gọi là “cơm bụi”, xuống phố dạo chơi gọi là “đi bát phố”, gọi người lẩm cẩm là “dở hơi”… Nhưng lý thú nhất là nhờ cụ cố nhà văn Nguyễn Tuân mà Sài Gòn nay có một tiếng lóng hiện đại thay cho cụm từ đi ăn nhà hàng theo American style – tiền ai nấy trả. Đó là cụm lóng KAMA, ghép bốn chữ tắt của “không – ai – mời – ai”. Đi KAMA phở một cái, tức cùng đi ăn phở mà không ai mời ai, món ăn cổ truyền nhưng ứng xử là thoải mái. Vào thời văn minh hiện đại, ngôn ngữ tiếng Anh trở thành phổ biến, giới trẻ đã chế ra một tiếng khá văn hoa, như chê một ai đó chảnh, các cô nói “lemon question” tức chanh hỏi – chảnh – mở ngoặc hoặc nói chệch đi lê-mông-wét-trần!. Lê Văn Sâm
Hồi những năm 1970 – 1980 ở Sài Gòn thịnh hành câu nói cửa miệng dễ thương, dễ sợ… nhất là trong giới trẻ học sinh, sinh viên. Không ca ngợi bằng những tính từ như đẹp, sang trọng, quý phái… người Sài Gòn thường khen ai đó thường là phụ nữ, một việc làm nào đó là “dễ thương”. Dễ thương, là thấy có cảm tình, quý mến, dễ chịu qua dung nhan, cư xử, hành vi, ngôn ngữ. Phụ nữ ở tuổi nào, tầng lớp nào cũng có thể là người “dễ thương”. Thường nghe mấy bạn trai trò chuyện “nhỏ đó dễ thương” khi nói về cô bạn hàng xóm hay cùng lớp, mấy ông hay nói “chị đó, cô đó dễ thương” khi nói về đồng nghiệp, bạn bè… Phụ nữ thượng lưu cũng muốn được khen dễ thương, vì ngoài sự sang trọng còn là sự duyên dáng, ý nhị. Nhưng đừng tưởng khen người ta “dễ thương” là có thể “thương dễ”, tán tỉnh sàm sỡ, coi vậy chớ “thương không dễ” đâu nha. Ngược với “dễ thương” là “dễ ghét” hay “thấy ghét” nhưng có khi không phải là “ghét” thiệt! Nếu “dễ thương” là… dễ thương thiệt thì “dễ sợ” không hẳn là “sợ”, nhất là khi được các cô gái nói ra với ngữ điệu kéo dài chữ “dễ” và nhấn vào âm “s” của chữ “sợ” thì không có gì… dễ thương bằng. “Dễ sợ” là ngạc nhiên, trầm trồ, khi lại là chê trách, khi là câu trả lời vô thưởng vô phạt khi nghe câu chuyện nào đó. “Dễ sợ” là sự bày tỏ thái độ trước sự việc, hiện tượng, câu chuyện chứ ít dùng với người như một tính từ. Vậy nhưng người Sài Gòn lại hay nói ghép thành “dễ thương dễ sợ”! Đó là dễ thương lắm á, đến nỗi không chỉ bày tỏ sự cảm mến mà còn thán phục, ngưỡng mộ. Mà cũng chỉ thấy những nàng trẻ trung duyên dáng được “đánh giá” là dễ thương dễ sợ, chớ có chồng con rồi, nếu được ai khen câu này – nhất là mấy ông chồng – thì chắc là phần “dễ sợ” nhiều hơn. Lần đầu nghe thấy hai từ “dễ thương”, “dễ sợ” tôi đã kết ngay. Có lẽ ít có từ nào thể hiện sự hồn hậu của người Sài Gòn phổ biến như thế là nhẹ nhàng khen ngợi và không nặng nề chê bai… Tuy có phần “cảm tính” nhưng lịch sự, thật lòng, không “khẳng quyết” nên người được khen là “dễ thương” không bối rối hay ngượng ngùng, người hay hành vi “dễ sợ” cũng không buồn, đôi khi còn vui vui vì nhận ra sự “tán thưởng” ngầm trong đó. Ai không đồng tình cũng không cần phản bác, dễ thương hay dễ sợ chỉ hơn bình thường chút thôi, đôi khi là trong một khoảnh khắc một ngữ cảnh nhất định, đâu cần phải tranh cãi. Người Sài Gòn, người miền Tây vẫn cởi mở như thế và từ đó luôn nhận thấy xung quanh có nhiều điều “dễ thương dễ sợ”. Như nhiều người đã biết, ngôn ngữ là một trong những thành tố văn hóa quan trọng nhất vì nó là biểu hiện trực quan của thái độ, cảm xúc con người, đời sống xã hội và sắc thái văn hóa địa phương. Cùng với ngữ điệu, ngôn ngữ thể hiện sự phong phú và tinh tế của tình cảm, những mối quan hệ của con người và phần nào cả lịch sử một cộng đồng, nhất là ở những đô thị lớn. Ngày mới vô Sài Gòn, khi ra chợ tôi rất ngạc nhiên khi nghe cách chào hỏi cậu, dì, con, cháu… những xưng hô thân tộc bên mẹ chiếm ưu thế ở chợ – một xã hội thu nhỏ. Lối xưng hô này nay chỉ còn trong vài chợ nhỏ lâu đời, nơi mà người bán người mua đều quen thuộc nhau đến vài mươi năm, thậm chí còn là bà con lối xóm. Cùng với “cậu dì con cháu” là “mua giúp, mua giùm”. “Tiền trao cháo múc” vẫn coi là vui vẻ giúp nhau, quan hệ người mua người bán là dịch vụ đấy nhưng thân thiện và tình nghĩa. Không mua bán được thì “lần sau nhớ ghé mua giúp nghen” như một câu chào dễ thương. Nhà tôi trong một hẻm nhỏ ở vùng Phú Nhuận gần sân bay Tân Sơn Nhứt, xung quanh toàn biệt thự và lối xóm là những gia đình công chức, phu nhân của tướng tá quan chức và các cô chiêu cậu ấm. Người Nam có, người Bắc di cư 1954 cũng có, kín cổng cao tường ít khi gặp mặt nhưng khi nhìn thấy nhau luôn chào hỏi niềm nở. Người bán hàng rong mỗi ngày qua đây cũng thành người quen của xóm, bữa nào có thiếu dư chút đỉnh tiền bạc không sao. Đặc biệt cách trả giá của mấy dì mấy cô rất nhẹ nhàng, không chê bai hàng hóa xấu đẹp hay miệt thị người bán đắt rẻ, được giá thì mua không thì thôi. Cứ lựa hàng tính tiền, bữa nào giá cả lên xuống thì nói trước, còn cho thêm nắm hành trái ớt… Việc chi tiêu tốn kém hơn dường như làm cả người bán cũng thấy xót xa chớ không chỉ người mua, ấy là hồi những ngày khó khăn thập niên 70, 80 của thế kỷ trước. Hồi đó ra đường vẫy chiếc xích lô, bác tài không đi được thì xin lỗi mà khách cũng cám ơn. Cám ơn là câu cửa miệng của cả người bán người mua. Gặp người lạ muốn hỏi thăm thì xin lỗi trước, được việc xong là cám ơn liền. Một nụ cười đáp trả như nói “không có chi” mang lại sự vui lòng cho cả hai bên. Cám ơn xin lỗi từ mọi giọng nói Bắc Trung Nam, từ khu biệt thự sang trọng tới xóm nhà lá, từ trường học đến công sở… Cho tới giờ, dù mất đi nhiều ngôn ngữ thịnh hành hồi cuối thế kỷ trước nhưng cũng may người Sài Gòn còn giữ được thói quen “cám ơn” và “xin lỗi” – mừng nhất là thói quen này ở con nít và người trẻ. Đi ngoài đường nhắc nhau gạt chân chống, tắt đèn xinhan, cuốn sợi dây cột đồ… rồi chạy tuốt, người được nhắc vẫn nói với theo câu “cám ơn” dù mặt mũi ai cũng bịt kín mít chẳng biết xưng hô thế nào cho đúng. Hồi đó ở Sài Gòn có đám đánh lộn chửi nhau không? Có chớ! Trong hẻm, trong chợ, ở quán nhậu… Bình thường xưng hô ông tui, lúc “cao trào” thì chửi thề và “mày, tao” với nhau, khi gọi “mày tao” với người lớn tuổi hơn là hỗn hào nhất rồi. Giận mấy thì giận cũng chỉ ngang hàng “bình đẳng”, không trèo leo đòi làm “ông bà cha mẹ” ai. Chắc vậy nên oánh nhau chửi lộn xong thì cũng… thôi, không để bụng thù dai. Hồi đó ở Sài Gòn nghe giọng Sài Gòn, giọng miền Tây nhiều, giọng Bắc giọng Trung cũng không ít, nhưng tất cả đều mang âm sắc nhẹ nhàng, âm lượng vừa đủ, lịch sự. Ngữ điệu cũng vậy, dễ nghe, dường như ai đến thành phố này giọng nói cũng “lai” một chút để có thể tiếp xúc với nhau một cách thân thiện dễ dàng. Những giọng nói như vậy tiếc là Sài Gòn nay ngày càng ít đi. Khi xem những bộ phim về Sài Gòn “hồi đó” thấy ngôn ngữ trong phim như của một nơi xa lạ, hổng phải Sài Gòn như bây giờ… Ngôn ngữ bây giờ phong phú và “đáo để” hơn trước, nhiều tính từ trực diện mạnh bạo, tiếng lóng, sự ám chỉ, liên tưởng cũng nhiều, âm sắc cao hơn, tốc độ nhanh hơn và âm lượng thì hiếm nơi nào chỉ vừa đủ nghe. Người đi xa mà nghe TV hay đọc “báo mạng” thì khó hiểu, thậm chí khó chịu. Thật ra đây cũng là một quy luật của văn hóa Cộng đồng dân cư thế nào thì ngôn ngữ như thế sự phong phú, phức tạp, biến đổi dân cư quá nhanh, tâm thức và vị thế của các nhóm dân cư cũng thể hiện bằng và qua ngôn ngữ. Có cảm giác như ngôn ngữ Sài Gòn không chỉ thay đổi theo cộng đồng dân cư thành phố mà còn thay đổi do tốc độ cuộc sống thời thong thả tản bộ, thời của những chiếc xe đạp mini, xe Solex hay xe máy Honda đã thay thế bằng xe máy phân khối lớn và xe hơi, âm thanh máy quay đĩa và dàn Akai đã thay thế bằng âm thanh của Video và loa thùng karaoke “kẹo kéo”… Những tiếng nói “dễ thương” cứ bị khuất chìm dười những thanh âm “dễ sợ” của một thành phố ngày càng xô bồ nhộn nhạo… Vẫn biết cuộc đời dâu bể mà sao cứ nhớ thương hoài về Sài Gòn “dễ thương dễ sợ” ngày xưa… Tác giả Nguyễn Thị Hậu
ngôn ngữ sài gòn xưa