nguyên nhân sỏi thận tái phát

Người có nhiều giun sán có nguy cơ bị sỏi mật vì trứng hoặc giun, sán có thể chui vào đường mật và chết ở đó thành nhân để tạo thành sỏi. Nhiễm trùng đường mật nhiều lần cũng là nguyên nhân gây sỏi mật, chính sỏi mật lại gây ra viêm, gây hẹp đường mật. Đây II. NGUYÊN NHÂN GÂY PHÙ Phù xảy ra khi mạch máu nhỏ trong cơ thể bị rò rỉ dịch (mao mạch). Điều này có thể gây rò rỉ từ các mao mạch hư hỏng, tăng áp lực bên trong hoặc từ các mức giảm của các albumin huyết thanh - một loại protein trong máu. Nguyên nhân hình thành sỏi thận . Do sự tăng quá mức nồng độ các chất khoáng như canxi, oxalat, muối urat, natri, cystine hay phốt pho. để điều trị tận gốc bệnh sỏi thận, tránh tái phát cần phải kiểm soát được lượng khoáng chất phát triển trong nước tiểu không Sỏi tiết niệu thường gây nên nhiều biến chứng do tắc đường tiết niệu, do nhiễm khuẩn; sỏi có thể tái phát và phát triển ở cả hai bên. Nếu bệnh nhân không được phát hiện, chẩn đoán và điều trị kịp thời thì chức năng thận sẽ bị giảm sút do tình trạng ứ Hiện nay, bệnh nhân mắc sỏi thận càng ngày càng tăng. Nói về nguyên nhân gây ra bệnh sỏi thận, bác sĩ Hoàng cho biết, chủ yếu là do người dân lao động uống ít nước. Quá trình lao động, vã mồ hôi, mất nước khiến nước tiểu bị cô đặc, tạo ra những tinh thể nhỏ mimpi bertemu nenek nenek yang tidak dikenal. Tải về bản PDF Tải về bản PDF Có thành phần bao gồm các khoáng chất và muối axít, sỏi thận là các hạt tinh thể cứng hình thành bên trong thận. Nếu sỏi đủ lớn chúng sẽ không thể thoát ra ngoài và gây đau dữ dội. Những người từng mắc bệnh này trong quá khứ cần biết cách phòng ngừa sỏi tái phát, vì khả năng tái hình thành sỏi lên tới 60-80%.[1] 1 Bạn phải nhờ bác sĩ tìm ra cụ thể loại sỏi nào trước đây bạn từng có. Điều này rất quan trọng vì chỉ khi biết được loại sỏi bạn mới có cách phòng ngừa cụ thể. Phải chắc chắn bác sĩ đã kiểm tra tuyến cận giáp để loại trừ khả năng đây là yếu tố tham gia vào quá trình hình thành sỏi thận.[2] Sỏi canxi hình thành do lượng canxi dư thừa tích tụ ở thận và không thể thải hết ra ngoài qua đường nước tiểu. Sau đó nó kết hợp với các chất cặn khác để tạo thành sỏi. Loại sỏi canxi điển hình nhất là canxi oxalat và đây cũng là loại phổ biến nhất. Sỏi canxi phốt-phát không phổ biến bằng nhưng gây nhiều rắc rối hơn vì chúng hình thành với kích thước lớn và cứng hơn, vì thế đương nhiên rất khó trị. Sỏi struvite hình thành sau khi nhiễm trùng đường tiểu và có cấu tạo từ magiê và amoniac. Sỏi axít uric sinh ra khi trong thận có quá nhiều axít. Giảm ăn thịt có thể ngăn chặn hình thành các loại sỏi này, vì sỏi thận thường có liên quan tới bệnh gút nên cũng phản ứng tương tự với cách điều trị bệnh gút. Sỏi cystin không phổ biến nhưng có khuynh hướng di truyền trong gia đình. Cystin là một amino axít và một số người thừa hưởng lại rất nhiều chất này từ thế hệ trước. 2Xem xét rủi ro trong tương lai. Những người đã từng có sỏi thận thì cũng có nguy cơ tái phát bệnh cao hơn. Bạn nên xem xét các yếu tố rủi ro mà có thể mình chưa biết, bằng cách tải về ứng dụng sau để đánh giá nguy cơ sỏi thận tại đường link Sau đó bạn nên thảo luận thêm với bác sĩ về các nguy cơ này. 3Tư vấn với bác sĩ. Tùy vào loại sỏi thận bạn từng có, tuổi tác, giới tính và tiền sử bệnh gia đình, bác sĩ có thể giúp bạn xây dựng kế hoạch giảm rủi ro tái hình thành sỏi thận. Chủ yếu bạn phải thay đổi chế độ ăn, uống nhiều nước và trong một số trường hợp phải dùng thuốc hoặc phẫu thuật nhưng chỉ áp dụng cho những ca cụ thể.[3] Quảng cáo 1Uống nhiều nước hơn. Nước giúp bài tiết chất thải là nguyên nhân hình thành sỏi thận. Bạn có thể uống các loại chất lỏng khác nhưng nước là tốt nhất. Nước có tác dụng rửa trôi nên ngăn ngừa hình thành sỏi mà không đưa vào thận bất kì chất nào khác như đường, natri, hay thành phần khác có trong các loại thức uống. Uống ít nhất 8 cốc nước 250 ml/cốc mỗi ngày. Tránh thức uống chứa caffein vì chúng làm khô thay vì cung cấp nước cho cơ thể. Lượng nước tiểu mỗi ngày khoảng 2 lít là tối thiểu và phải có màu vàng thật nhạt.[4] 2Tránh ăn muối. Một trong những nguyên nhân chính dẫn tới sỏi thận là nước tiểu quá đậm đặc. Muối làm cơ thể mất nước và do đó khiến nước tiểu có nồng độ cao hơn. Nếu bạn thật sự thích ăn mặn thì phải dung hòa tác dụng của nó bằng cách uống nhiều nước sau khi ăn.[5] 3Giảm ăn thịt. Protein động vật làm nước tiểu đậm đặc nên cũng là yếu tố cần tránh. Chất thải từ protein đi vào nước tiểu và tăng nguy cơ hình thành sỏi thận.[6] 4 Tiêu thụ nhiều chất xơ hơn. Một số nghiên cứu chứng minh chất xơ không hòa tan kết hợp với canxi trong nước tiểu và đào thải ra ngoài trong phân, do đó giảm lượng canxi sót lại trong nước tiểu. Nguồn thực phẩm chứa nhiều chất xơ bao gồm[7] Ngũ cốc nguyên hạt như yến mạch, cám, diêm mạch Mận khô và nước ép mận khô Rau có lá như bó xôi, củ cải Thụy Sĩ hay cải xoăn 5 Cẩn thận với lượng oxalat tiêu thụ nếu bạn từng có sỏi canxi oxalat. Cách tốt nhất là bạn ăn cả canxi và oxalat trong cùng một bữa ăn, như vậy canxi và oxalat sẽ kết hợp với nhau ngay trong dạ dày thay vì chờ đến khi thận bắt đầu xử lý và chuyển hóa nó thành sỏi thận.[8] Bó xôi, sôcôla, củ dền và đại hoàng đều có hàm lượng oxalat cao. Đậu, ớt chuông xanh, trà và đậu phụng cũng chứa oxalat. Sữa, phô mai, nước cam ép bổ sung canxi và sữa chua là những thực phẩm chứa nhiều canxi mà bạn có thể ăn kết hợp với thực phẩm giàu oxalat. Quảng cáo 1Uống thuốc trị sỏi canxi. Các loại thuốc điển hình nhất là thuốc lợi tiểu nhóm thiazide hay hỗn hợp chứa phốt phát. Hydrochlorothiazide một loại thuốc lợi tiểu nhóm thiazide có tác dụng giảm lượng canxi tiết vào nước tiểu bằng cách giữ canxi lại trong xương, nhờ vậy giảm nguy cơ phát triển sỏi canxi. Thuốc này hiệu quả nhất khi bạn đồng thời điều chỉnh lượng muối tiêu thụ.[9] 2Nhờ bác sĩ kê thuốc loại trừ sỏi axít uric. Thuốc allopurinol Zyloprim, Aloprim duy trì tính kiềm của nước tiểu và giảm hàm lượng axít uric trong cả máu và nước tiểu. Đôi khi allopurinol có thể kết hợp với một tác nhân kiềm hóa nào đó để hòa tan hoàn toàn sỏi axít uric.[10] 3Uống kháng sinh trị sỏi struvite. Uống các đợt kháng sinh ngắn có thể giúp ngăn chặn vi khuẩn tạo sỏi struvite hình thành trong nước tiểu. Thông thường bác sĩ không muốn bạn uống kháng sinh trong thời gian dài, nhưng chỉ cần liều ngắn cũng giúp ích đáng kể.[11] 4Co ngót sỏi cystin bằng cách kiềm hóa nước tiểu. Phương pháp này yêu cầu phải nhét ống thông đường tiểu và tiêm tác nhân kiềm hóa vào trong thận. Sỏi cystin thường phản ứng tốt với cách điều trị này, đặc biệt khi kèm theo đó bạn uống nhiều nước cả ngày lẫn đêm.[12] 5Kiểm soát hình thành sỏi canxi bằng phẫu thuật. Đây chỉ là lựa chọn nếu bạn mắc chứng cường tuyến cận giáp, nghĩa là tuyến cận giáp là nguyên nhân gây sỏi thận. Sỏi canxi có khả năng hình thành nếu bạn mắc bệnh này. Phẫu thuật cắt bỏ một trong hai tuyến cận giáp ở cổ có thể trị được bệnh và loại trừ nguy cơ sỏi thận.[13] Quảng cáo Lời khuyên Không phải lúc nào bạn cũng có thể tìm ra loại sỏi mà mình có trước đây. Sỏi có thể đã thoát ra ngoài mà không để lại dấu tích gì, hoặc kết quả xét nghiệm sỏi mất từ lâu. Tuy nhiên bạn vẫn có thể trị được sỏi, chỉ là phương pháp điều trị không tập trung lắm và kém hiệu quả hơn.[14] Về bài wikiHow này Trang này đã được đọc lần. Bài viết này đã giúp ích cho bạn? Sỏi thận là những tinh thể rắn hình thành từ các chất của nước tiểu nằm ở bên trong thận. Bệnh có thể xảy ra ở bất kỳ ai, đặc biệt là những người lớn tuổi. Thay vì chủ quan, người bệnh nên sớm phát hiện bệnh để có các biện pháp điều trị kịp thời nhằm ngăn chặn sự phát triển của sỏi thận, tránh biến chứng nguy thận là gì? Nhận biết dấu hiệuSỏi thận xảy ra khi các chất khoáng trong nước đọng lại ở thận, bàng quang, niệu quản và hình thành tinh thể rắn. Sỏi có nhiều kích thước, từ nhỏ đến lớn vài cm, có thể lấp đầy bể thận và các ống mang nước tiểu từ thận đến bàng thận là gì? Đâu là nguyên nhân và triệu chứng nhận biết bệnhCác chuyên gia sẽ dựa vào thành phần của sỏi để chia bệnh thành 4 loại sỏi canxi, sỏi axit uric, sỏi struvit, sỏi cystin. Trong 4 loại trên, chỉ có sỏi canxi thuộc nhóm sỏi cản quang, 3 loại còn lại là sỏi không cản hiệu sỏi thậnKhi sỏi thận xuất hiện, đường tiết niệu bị kích thích dẫn đến co thắt, bóp chặt và gây tắc nghẽn. Lúc này nước tiểu không thể bài tiết ra ngoài và làm tăng áp lực lên vùng bể thận, từ đó dẫn đến đau lưng và nhiều triệu chứng sỏi thận khácSỏi thận gây đau lưngNiệu quản là đường dẫn nước tiểu từ thận tới bàng quang, do đó sỏi thận xuất hiện sẽ tạo ra sự cọ xát hoặc tắc ứ nước tiểu và gây đau lưng. Cơn đau bắt đầu từ thắt lưng, ở một hoặc cả 2 bên hạ sườn, sau đó lan dần từ vùng hố thắt lưng xuống phía dưới hoặc phía trước hố chậu, đùi, thậm chí lan sang cả bộ phận sinh dục. Đau co thắt từ bên trong, kéo dài từ 20 – 60 phút, thậm chí là vài giờ. Người bệnh nằm tư thế nào cũng cảm thấy đau nhức, có thể tiểu ra máu, sốt hoặc ớn sỏi thận phát triển và hình thành các viên sỏi to, chúng sẽ tạo áp lực lên khu vực bị ảnh hưởng và gây chèn ép tại các vùng mô xung quanh. Khi đó người bệnh còn cảm thấy đau khi ngồi lâu hoặc thay đổi tư thế đột ngột. Lúc này có thể sỏi đã to hơn và gây áp lực lên khu vực bị ảnh chứng bí đái và sỏi thận tiểu ra máuDù lượng nước uống vào không thay đổi nhưng lại đi tiểu nhiều và tiểu buốt hơn bình thường. Đó là vì các viên sỏi di chuyển từ bàng quang ra niệu đạo làm xuất hiện các vết xước, gây viêm nhiễm, thậm chí tiểu ra và có cảm giác ớn lạnhSỏi thận có thể gây nhiễm trùng đường tiết niệu khiến người bệnh bị ho, sốt và toàn thân ớn lạnh. Bên cạnh đó thận và ruột còn có sự liên kết thông qua dây thần kinh. Vì vậy bệnh sỏi thận cũng gây ra các ảnh hưởng tới đường tiêu hóa và khiến bạn cảm thấy buồn vùng thậnNếu không điều trị kịp thời, sỏi thận có thể gây sưng thận, bụng, háng hoặc khu vực xung quanh. Các triệu chứng diễn ra âm thầm nên người bệnh rất khó phát hiện ở giai đoạn đầu. Điều này gây ra nhiều khó khăn trong quá trình điều trị. Vì vậy bạn nên quan tâm nhiều hơn đến sức khỏe và đi thăm khám định kỳ để phát hiện bệnh kịp ra dấu hiệu nhận biết sỏi thận ở nam cũng tương đồng với sỏi thận ở nữ. Trên thực tế, hầu như phụ nữ nào cũng có sỏi trong thận, tuy nhiên mỗi người sẽ có số lượng, kích thước và khả năng tự đào thải khác nhau. Nếu sỏi bị mắc kẹt quá nhiều có thể gây ra các biến chứng nguy hiểm đến sức nhân gây bệnh?Bệnh được hình thành từ rất nhiều nguyên nhân, có thể do bẩm sinh, thừa cân, tăng huyết áp, đái tháo đường, dư thừa thức ăn trong cơ thể,… Sau đây là các nhân tố chính gây sỏi thậnChế độ ăn uống không hợp lýThực phẩm mặn, nhiều dầu mỡ làm tăng thể tích tuần hoàn, chất khoáng được lọc qua thận nhiều hơn làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh. Ngoài ra muối còn gia tăng sự đào thải natri, kéo theo sự tăng ion canxi tại ống thận. Nồng độ canxi cao tạo điều kiện để hình thành các loại tiểu ítCông việc nặng, tập thể dục cường độ cao hoặc khí hậu khô nóng khiến lượng nước tiểu ít dần, cơ thể không đủ nước để hòa tan muối dẫn đến lắng đọc natri và hình thành bệnh về đường tiêu hóaTiêu chảy, viêm loét đại tràng hoặc phẫu thuật dạ dày sẽ làm giảm lượng lớn chất lỏng từ cơ thể và giảm lượng nước tiểu được đào thải. Cơ thể hấp thu và gia tăng oxalate trong nước tiểu tạo điều kiện thuận lợi để hình thành sỏi thận oxalat lý về đường tiết niệuMột số bệnh đường tiểu gây cản trở lưu thông nước tiểu dẫn đến ứ đọng và hình thành các viên sỏi. Nhóm sỏi bàng quang, sỏi niệu quản có thể nhiễm khuẩn ngược dòng và làm thận bị hư phìTheo một nghiên cứu được đăng trên tạp chí The American Medical Association, người có chỉ số BMI cao chỉ số khối của cơ thể dễ mắc bệnh sỏi thận hơn người bình thường. Vì vậy một trong những yếu tố làm giảm nguy cơ mắc bệnh là kiểm soát tốt cân nặng của cơ dụng thuốc uống tùy tiệnNhiều người dùng thuốc bừa bãi, không theo chỉ định trong thời gian dài sẽ làm tăng nguy cơ bị sỏi thận. Ngoài ra việc uống bổ sung vitamin C và canxi hằng ngày cũng có thể dẫn đến dư thừa, chuyển hóa các chất thành oxalat đào thải ra ngoài thận và khiến thận bị quá quen sinh hoạt thiếu khoa họcNhịn ăn sáng, nhịn tiểu, uống ít nước, mất ngủ,… đều là nguyên nhân gây bệnh. Khi người bệnh sinh hoạt không khoa học, độc tố khó có thể đào thải ra bên ngoài, dịch mật tích tụ trong túi mật, các mô thận bị tổn thương không thể tái tạo và phục tố di truyềnGần 25% trường hợp bị sỏi thận do gen di truyền. Vì vậy, tỷ lệ mắc bệnh của người có có cha mẹ hoặc người thân bị sỏi thận sẽ cao hơn người tượng dễ mắc bệnh và phương pháp chẩn đoánĐối tượng dễ mắc bệnh sỏi thậnTrẻ sinh non Yếu tố hình thành sỏi thận là do cơ thể không uống đủ nước, đào thải ít hơn 1l nước tiểu mỗi ngày. Đây là lý do sao trẻ sinh non dễ mắc bệnh sỏi thận. Tuy nhiên người ở độ tuổi 20 - 50 cũng rất dễ mắc căn bệnh da trắng dễ bị sỏi thận hơn người da đen theo báo cáo của Hoa Kỳ.Nam giới dễ mắc bệnh hơn phụ đình có tiền sử bị bệnh sỏi thận, tăng nguy cơ tái có những yếu tố mắc bệnh như Dễ mất nước, béo phì, chế độ ăn không khoa học, phẫu thuật dạ dày, viêm ruột, sử dụng nhiều thuốc,...Các phương pháp chẩn đoán bệnhHiện nay, các bác sĩ có thể chẩn đoán sỏi thận thông qua việc khám lâm sàng, xét nghiệm nước tiểu, chụp X- quang, siêu âm bụng, chụp CT,… Từ đó bác sĩ sẽ dựa vào nguyên nhân, dấu hiệu và mức độ bệnh lý để đưa ra hướng điều trị phù chứng của bệnh sỏi thậnCác triệu chứng của bệnh sỏi thận chỉ có thể nhận biết rõ ràng khi sỏi thận di chuyển tới niệu quản. Lúc này ngoài những cơn đau dữ dội ở vùng hông lưng, người bệnh còn xuất hiện các triệu chứng nhưĐi tiểu nhiều lần, tiểu rắt Người bị sỏi thận sẽ có nhu cầu đi tiểu nhiều lần, đặc biệt là khi viên sỏi nằm ở niệu quản đầu bàng quang hay ở cổ bàng quang. Việc thường xuyên đi tiểu, tiểu với lượng nhỏ hay còn gọi là tiểu rắt, khả năng cao sỏi thận đang di chuyển qua niệu quản. Lúc này, sỏi thận sẽ kích thích bàng quang và khiến người bệnh có cảm giác muốn đi tiểu. Tuy nhiên, nếu sỏi thận đã phát triển lớn có thể làm tắc nghẽn niệu đạo, gây rối loạn co thắt cơ trơn bàng quang và tạo tín hiệu buồn tiểu giả rất khó chịu. Tiểu ra máu Bệnh khi phát triển sẽ gây tổn thương niêm mạc đường tiết niệu và khiến bộ phận này bị chảy máu. Vậy nên trong một vài trường hợp, khi tiểu bạn sẽ thấy nước tiểu có màu hồng hoặc nâu. Nếu không may rơi vào tình trạng này, tốt nhất bạn nên tới bệnh viện thăm khám và tiếp nhận điều trị càng sớm càng tốt. Buồn nôn, nôn Đây là dấu hiệu sỏi thận đang bị tắc nghẽn một phần hoặc toàn phần khiến nước tiểu không di chuyển tới bàng quang. Cộng thêm các dây thần kinh ở ruột và thận có mối liên quan tới nhau nên khi tắc nghẽn ở thận chúng sẽ làm ảnh hưởng tới đường tiêu hóa, kích hoạt dây thần kinh, làm cho da dày co thắt, khó chịu và dẫn tới hiện tượng buồn nôn, nôn. Sốt, lạnh Dấu hiệu nhận biết này thường đi kèm với các triệu chứng sỏi thận ở nữ. Chúng cho thấy người bệnh đã bị nhiễm trùng, bởi sỏi thận là nơi vi khuẩn dễ dàng phát triển. Nước tiểu có màu đục Nếu nước tiểu có màu đục, khả năng cao là bạn đang bị sỏi hoặc nằm trong danh sách đối tượng dễ bị sỏi thận - tiết niệu. Hiện tượng này xuất hiện do quá trình lắng đọng chất cặn bã hoặc cũng có thể là vì viêm đường tiết niệu. Cảm thấy đau rát khi đi tiểu Tắc nghẽn đường dẫn tiểu gây tiểu khó, tiểu buốt diễn ra khi sỏi rơi xuống niệu quản hoặc từ bàng quang xuống niệu đạo. Chưa kể, khi phát triển, sỏi cọ vào niêm mạc niệu quản, niệu đạo gây đau và nóng rát khi tiểu. Kèm theo đó là các cơn đau cùng các tình trạng viêm nhiễm khác. Vô niệu Sỏi niệu quản có thể gây ra vô niệu một phần hoặc toàn phần. Trong đó, vô niệu một phần là do sỏi gây tắc một bên thận, toàn phần là gây tắc nghẽn cả 2 bên. Đây là trường hợp cần được xử lý gấp để tránh bị vỡ thận, suy thận cấp. Sỏi thận có nguy hiểm không?Những viên sỏi nhỏ có khả năng bào mòn và đào thải bằng đường nước tiểu. Tuy nhiên, khi khoáng chất bị đọng lại quá nhiều sẽ làm tăng kích thước của sỏi. Khi viên sỏi càng lớn, mức độ ảnh hưởng càng cao. Cụ thểSỏi thận 3mm không quá nguy hiểm, viên sỏi có thể rơi xuống bàng quang và ra ngoài theo đường tiểu khi uống nhiều nướcSỏi thận 4mm và 5mm có thể gây ra một số cơn đau ở bụng, hông, đùi nhưng không tiềm ẩn nhiều nguy thận 6mm và sỏi thận 7mm gây ứ nước đi kèm triệu chứng khó chịu, có thể ảnh hưởng xấu đến sức thước sỏi càng lớn, bệnh càng gây ra nhiều biến chứng nguy hiểmNếu người bệnh thờ ơ với bệnh sỏi thận, kích thước và độ cứng của sỏi ngày càng gia tăng, từ đó dẫn đến các biến chứng sauNhiễm trùng tiết niệuSỏi tiết niệu gồm niệu quản, sỏi thận, bàng quang có kích thước lớn và các cạnh sắc nhọn nằm bên trong đường tiết niệu là nơi cư trú của nhiều hại khẩn. Trong quá trình di chuyển, sỏi thận cọ xát khiến nhiều vị trí ở niêm mạc đường tiết niệu bị tổn thương và gây nhiễm trùng. Dấu hiệu nhận biết bệnh gồm sốt, tiểu rắt, tiểu buốt, tiểu ra máu, trường hợp nặng có thể gây viêm thận và thận ứ nghẽn đường tiết niệuThông thường, đài thận và bể thận là nơi sỏi thận hình thành. Tuy nhiên chúng sẽ theo dòng chảy của nước tiểu và di chuyển xuống các vị trí khác, sau đó rơi xuống niệu quản, niệu đạo và gây tắc nghẽn. Khi đó cơ trơn tiết niệu sẽ co bóp nhiều lần để đẩy viên sỏi ra ngoài, từ đó gây ra các cơn đau quặn và triệu chứng tiểu đêm, tiểu thận cấp và mãn tínhCác tình trạng như thận ứ nước, viêm đường tiết niệu, sỏi thận gây tắc nghẽn dần dần hủy hoại tế bào và ảnh hưởng đến chức năng của thận theo nhiều cấp độ. Nếu thận bị suy giảm chức năng trên 75% sẽ gây hại đến tính mạng con người, đồng thời quá trình điều trị cũng gặp nhiều khó khăn. Biểu hiện của suy thận là sưng phù các bộ phận, thay đổi vị giác, da niêm mạc nhợt nhạt,…Vỡ thậnTrường hợp này tương đối hiếm gặp nhưng lại rất nguy hiểm, thậm chí có thể gây tử vong nếu không điều trị đúng phương pháp. Bởi vì vách thận rất mỏng, nếu bị ứ nước quá nhiều, có thể bị vỡ một cách đột ngột, tính mạng người bệnh bị đe thể thấy bệnh lý này tiềm ẩn nhiều biến chứng nguy hiểm, ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe nếu không được điều trị kịp thời. Vậy khi người bệnh bị đau sỏi thận phải làm sao? Phương pháp điều trị nào an toàn, hiệu quả và không tái phát?Chẩn đoán bệnh sỏi thận thế nào?Việc chẩn đoán bệnh cần được thực hiện tại các cơ sở y tế có trang thiết bị máy móc hiện đại để đưa ra kết quả chính xác cùng phác đồ điều trị hiệu quả. Theo đó, bệnh nhân sẽ cần thực hiện nhiều biện pháp xét nghiệm và kiểm tra như sauSiêu âm Nếu bác sĩ nghi ngờ bạn bị sỏi thận, phương pháp đầu tiên được chỉ định chính là làm siêu âm. Biện pháp này ít tốn kém nhưng lại cho kết quả khá chính xác. Việc siêu âm có thể phát hiện sỏi cũng như tiên lượng được độ ứ nước của thận, niệu quản và độ dày mỏng của mô thận. Rất nhiều trường hợp bị sỏi thận nhưng chưa có biến chứng hay triệu chứng rõ ràng, qua việc thăm khám sức khỏe tổng quát định kỳ mà nhiều người vẫn có thể phát hiện ra bệnh lý và điều trị sớm. Xét nghiệm nước tiểu Là xét nghiệm bắt buộc trong chẩn đoán để kết luận tình trạng bệnh - giai đoạn tiến triển, biến chứng và dấu hiệu nhiễm trùng đường tiết niệu nếu có. pH nước tiểu Nếu độ pH trên có thể kết luận là nhiễm trùng đường tiết niệu. Soi cặn lắng Phương pháp này cho biết loại sỏi đang tồn tại và hình thành trong hệ tiết niệu là gì thông qua việc phát hiện các tinh thể như Calci, phosphat hay Oxalat,... Protein niệu Nước tiểu có Protein niệu rất có khả năng bạn đang gặp một số bệnh cầu thận khác ngoài nhiễm trùng niệu. Tìm tế bào và vi trùng Trường hợp nghi ngờ có sỏi thận xảy ra biến chứng nhiễm trùng, bác sĩ sẽ quay ly tâm, soi, nhuộm gram để tìm vi trùng trong nước tiểu. UIV - chụp hệ tiết niệu qua đường tĩnh mạch Là phương pháp cho biết hình dáng thận, đài bể thận, niệu quản cũng như vị trí của sỏi trong đường tiết niệu, mức độ giãn nở của các bộ phận trên. Từ những thông tin được cung cấp, bác sĩ sẽ nắm được chức năng bài tiết chất cản quang của thận ở từng bên. ASP - chụp X-quang bụng không chuẩn bị Ở Việt Nam đa phần là sỏi cản quang nên muốn chẩn đoán chính xác thì cần phải tiến hành chụp X-quang. Bởi, ASP - chụp X-quang bụng sẽ cho bác sĩ biết vị trí vị trí sỏi cản quang, kích thước, số lượng và hình dáng của soi bàng quang Ít được dùng khi chẩn đoán mà phần lớn được dùng phổ biến trong phẫu thuật nội soi để lấy hình ảnh. Chụp X-quang niệu quản thận ngược dòng và xuôi dòng Dùng để phát hiện sỏi không cản quang hay được áp dụng trong trường hợp thận câm trên phim UIV. Điều trị sỏi thận bằng phương pháp nào hiệu quả cao?Phương pháp điều trị sỏi thận sẽ tùy thuộc vào từng loại sỏi, chuyên gia sẽ đưa ra phương pháp phù hợp. Hiện nay có những cách điều trị hiệu quả cao sauĐâu là thuốc chữa sỏi thận hiệu quả?Với những người mắc bệnh ở mức độ nhẹ, bác sĩ có thể chỉ định các loại thuốc tây để đẩy lùi triệu chứngNhững viên sỏi có kích thước trên 5mm, người bệnh sẽ ược khuyến nghị dùng kết hợp thuốc bào mòn sỏi và giúp lợi tiểu. Thông thường bác sĩ có thể chỉ định thuốc có khả năng kiểm soát tốt nồng độ chất khoáng như canxi, muối urat, oxalat, natri, cystine hoặc phốt pho trong nước tiểu để ngăn chặn sự hình thành các viên sỏi mới và phòng bệnh tái quá trình điều trị, người bệnh nên nghe theo chỉ định của bác sĩ, không tự ý mua thuốc hoặc thay đổi liệu trình để tránh trường hợp phản tác dụng. Nếu gặp tác dụng phụ, bạn hãy đến gặp chuyên gia để được trợ dụng biện pháp ngoại khoa – Mổ sỏi thậnKhông phải cứ bị sỏi thận là người bệnh sẽ phải mổ. Chỉ khi cách chữa nội khoa không hiệu quả hoặc viên sỏi quá lớn thì bác sĩ mới chỉ định phương pháp này. Vậy sỏi thận kích thước bao nhiêu phải mổ?Theo các chuyên gia, điều trị ngoại khoa được xem là biện pháp cấp bách để loại bỏ các viên sỏi có kích thước trên 20mm. Các cách phẫu thuật được áp dụng là tán sỏi nội soi ngược dòng, tán sỏi xung kích, tán sỏi thận qua da,…Vì phương pháp này tiềm ẩn nhiều rủi ro như sẹo niệu quản, rách niệu quản, chảy máu, nhiễm trùng,… nên người bệnh phải tìm đến các bệnh viện uy tín, có trang thiết bị hiện đại và bác sĩ có tay nghề cao để đảm bảo an dân gian chữa sỏi thận tại nhàNhững viên sỏi nhỏ có kích thước dưới 5mm không gây ra nhiều nguy hiểm cho sức khỏe. Vì vậy người bệnh có thể trị sỏi thận bằng mẹo dân gian cộng thêm thay đổi lối sống để đào thải sỏi ra bên sỏi thận bằng dứaDứa có vị chua, tính bình, giúp giải khát, sinh tân dịch, hỗ trợ tiêu hóa, thanh nhiệt giải độc. Để chữa bệnh bạn có thể nướng quả dứa trên lửa sao cho cháy phần vỏ ngoài, tiếp theo ép lấy nước cốt rồi trộn với 1 quả trứng gà đánh nhuyễn. Mỗi ngày uống 2 lần hỗn hợp này, uống liên tiếp 3 sỏi thận bằng rau ngổRau ngổ có vị chua, tính mát, rất hiệu quả khi thông mật, giãn cơ, chống co thắt, lợi tiểu, làm sạch đường tiểu, tăng lọc ở cầu thận và đem lại tác dụng tốt khi chữa sỏi thực hiện Lấy 50gr rau ngổ tươi rồi rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước cốt, sau đó cho thêm một thìa muối trắng và hòa tan. Mỗi ngày uống 2 lần, dùng liên tiếp trong 5 – 7 ngày để sỏi thận mài mòn và dễ dàng thoát ra bên ngoài theo đường nước sỏi thận bằng đu đủYHCT quan niệm đu đủ xanh có vị ngọt, tính mát, giúp nhuận tràng, lợi thấp và làm dịu cơn đau do bệnh sỏi thận gây nên. Ngoài ra đu đủ còn có tác dụng tiêu viêm, đẩy lùi tình trạng đau rát khi tiểu, khó tiểu, giúp bào mòn sỏi thận, sỏi mạn,…Khi chữa bệnh, bạn nên chọn đu đủ xanh có nhiều nhựa, bánh tẻ, không quá già hoặc không quá non. Sau đó bạn mang đu đủ nguyên vỏ cắt hai đầu, bổ đôi, khoét sạch hạt. Tiếp đến bạn rửa sạch, cho muối vào phần ruột và cho vào một nồi nước lớn để đun cách thủy. Đợi đến khi đu đủ chín thì để nguội và ăn sau bữa chính. Mỗi ngày ăn một quả, thực hiện liên tiếp trong một bệnh có thể sử dụng đu đủ xanh để ngăn chặn sự phát triển của sỏiChữa bệnh bằng biện pháp Đông yCác loại thuốc đem đến hiệu quả nhanh, giảm triệu chứng tức thời nhưng khó tác động sâu vào căn nguyên. Trong khi phẫu thuật tốn kém chi phí và có mức độ rủi ro cao. Do đó, người bệnh cần tìm phương pháp điều trị có thể đáp ứng 4 tiêu chí gồm đào thải hết sỏi thận và cặn lắng ở đường tiết niệu, đẩy lùi hiệu quả triệu chứng, tăng cường chức năng đường tiết niệu và bảo vệ thận, phòng tránh biến chứng và ngăn ngừa sỏi thận tái nay, phương pháp điều trị đạt đủ các mục tiêu trên là cách chữa sỏi thận bằng Đông y. Từ lâu đời, cha ông đã biết cách kết hợp hàng chục thảo dược tự nhiên, có tác dụng cải thiện triệu chứng, tăng đào thải sỏi, ức chế kết tinh sỏi,… để bào chế các bài thuốc trị bệnh. Đến nay, phương pháp này ngày càng được bệnh nhân tin tưởng vì các ưu điểm an toàn, hiệu quả và phù hợp với mọi đối biện pháp phòng ngừa bệnh sỏi thậnUống nhiều nước phù hợp với cơ địa, một lượng nước phù hợp nằm trong mức 15,l - 2l một ngày. Việc tăng cường đủ nước sẽ giúp cơ thể dễ dàng đào thải những tinh thể lắng đọng trong ưu tiên nước hoa quả hoặc nước lọc để nạp vào cơ thể. Ví dụ như chanh có chứa axit uric ngăn chặn hình thành sỏi, hoặc nước ép hoa quả có múi chứa citrate cũng có hiệu quả tương chế dùng những thực phẩm làm tăng nguy cơ hình thành sỏi như dầu mỡ, cholesterol, soda, trà đá,..Thực hiện phương pháp ăn nhạt, hạn chế trì cân nặng ở mức hợp lýThường xuyên đến các cơ sở có chuyên môn để kiểm tra sức khỏe định kỳ, kịp thời phát hiện thận là bệnh lý tiến triển nhanh, phức tạp và tạo nên nhiều vấn đề ảnh hưởng xấu đến sức khỏe. Vì vậy bạn không nên chủ quan mà hãy lắng nghe cơ thể, quan sát các dấu hiệu bất thường và theo dõi trong thời gian dài. Nếu các triệu chứng nặng và ngày càng rõ nét bạn cần đến bệnh viện để được đưa ra phác đồ điều trị phù hợp từ chuyên gia. Ba em năm nay 54 tuổi, từng bị sỏi thận và phẫu thuật lấy sỏi cách đây 5 năm. Dạo gần đây, ba em lại có triệu chứng như trước khi phẫu thuật. Bao gồm đau lưng, đi tiểu khó khăn, đau rát, tần suất đi tiểu nhiều, thỉnh thoảng tiểu ra máu. Em lo lắng không biết bệnh sỏi thận của ba tái phát hay do bệnh lý nào khác, vì lâu nay em luôn nghĩ sỏi thận đã phẫu thuật điều trị là khỏi hoàn toàn. Hoàng Mai, Long An Trả lời Để biết chính xác tình trạng bệnh của ba bạn, bạn nên sắp xếp cho ba đi khám sớm. Vì những triệu chứng bạn nêu rất có khả năng ba của bạn tái phát bệnh cũ, cũng có thể là rối loạn đường tiểu dưới. Sỏi thận là tình trạng lắng đọng của các khoáng chất trong nước tiểu hình thành tinh thể như canxi, muối, axit uric và oxalat. Nếu không đủ nước để loại bỏ các khoáng chất này, lâu ngày chúng sẽ cô đặc tạo thành sỏi thận. Sỏi thận là bệnh tiết niệu phổ biến và rất dễ tái phát với nhiều nguyên nhân khác nhau, bao gồm cả yếu tố chủ quan và khách quan. Nếu người bệnh đã phẫu thuật lấy sỏi một lần, nhưng không thay đổi lối sống theo hướng tích cực hoặc có thể do yếu tố cơ địa, bệnh lý tác động thì bệnh sỏi thận có thể quay trở lại. Bệnh sỏi thận hình thành, tái phát có thể do lối sống, thói quen ăn uống như ăn nhiều thịt, nhất là thịt đỏ, đạm động vật – những protein chứa nhiều nhân purin. Những chất này sau quá trình chuyển hóa sẽ tạo ra chất thải là ure, thải qua nước tiểu, khi bị lắng đọng tại thận sẽ hình thành sỏi. Chất béo từ động vật làm tăng nồng độ axit uric trong khi giảm chất hóa học cần thiết để ngăn khoáng chất kết tinh. Ăn nhiều muối nhưng lại uống ít nước dưới 2 lít nước mỗi ngày khiến cho cơ thể không đủ nước để đào thải độc tố và chất cặn bã ra ngoài. Người từng bị sỏi thận có thể tái phát bệnh với triệu chứng như đau lưng, đi tiểu khó khăn. Ảnh Freepik Sự lắng đọng chất cặn bã ở thận cũng có thể hình thành từ những thói quen không ngờ đến như nhịn ăn sáng do dịch mật giữ trong túi mật quá lâu hình thành nên sỏi thận; thói quen ít vận động khiến quá trình trao đổi chất kém, chất độc đào thải qua mồ hôi không được diễn ra thường xuyên. Bên cạnh đó, việc tự ý bổ sung canxi không tuân theo chỉ định của bác sĩ cũng là nguyên nhân hình thành sỏi thận. Khi canxi trong cơ thể dư thừa sẽ đào thải ra ngoài, tuy nhiên nếu đào thải không hết sẽ lắng đọng tại thận, lâu ngày sẽ hình thành sỏi ở thận. Ngoài những nguyên nhân chủ quan, do lối sống, sỏi thận hình thành do các yếu tố khách quan như cơ thể hấp thu kém, khó tiếp nhận các khoáng chất và sẽ đào thải qua nước tiểu. Tuy nhiên, quá trình đào thải kém sẽ là nguyên nhân hình thành sỏi ở thận. Quá trình hình thành sỏi còn có thể do bất thường ở niệu quản, do viêm, tắc nghẽn dễ làm viêm nhiễm niệu quản, dẫn đến tình trạng viêm và phù nề niêm mạc đài bể thận, dễ dẫn tới xơ hoá chức năng thận và hình thành sỏi thận. Những người có bệnh lý nền như bệnh lý về tuyến giáp, béo phì, tiểu đường… gây ra tình trạng dư thừa axit uric, lắng đọng canxi tại vùng thận làm tăng nguy cơ tái mắc lại sỏi thận. Do đó, người bệnh sau khi phẫu thuật lấy sỏi thận, để phòng ngừa bệnh tái phát, bên cạnh xây dựng lối sống khoa học, phòng ngừa các yếu tố nguy cơ ở trên, giảm natri, uống nhiều nước, ăn nhiều trái cây và rau xanh, ưu tiên protein từ nguồn thực vật. Người bệnh nên tập thói quen vận động ít nhất 30 phút mỗi ngày 5 lần một tuần và nên thăm khám sức khỏe định kỳ 3-6 tháng một lần giúp tầm soát, phát hiện sớm và điều trị bệnh từ sớm. Bệnh sỏi thận nếu phát hiện ở giai đoạn sớm, sỏi còn đang nhỏ thì chỉ cần điều chỉnh lối sống, có chế độ dinh dưỡng cân đối, uống đủ nước và luyện tập thường xuyên để cơ thể tự đào thải sỏi qua đường tiểu mà không phải phẫu thuật. Ba bạn sớm thăm khám để xác định bệnh để có phương pháp điều trị phù hợp. Châu Minh DuyTrung tâm Tiết niệu và Thận học, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM Sỏi thận là một bệnh quen thuộc của đường tiết niệu. Cấu trúc của hệ tiết niệu bao gồm hai quả thận, niệu quản, bàng quang, niệu đạo. “Sỏi thận” thực ra là một từ chung chung không thật sự chính xác được dùng để chỉ các sỏi của hệ tiết niệu. Có thể xuất hiện là bất kỳ vị trí nào trên đường tiểu. Hãy đọc bài viết này của bác sĩ Hồ Ngọc Lợi để hiểu hơn về nó nhé. Sỏi thận là gì? Sỏi thận chính xác là sỏi đường tiết niệu là tình trạng lắng đọng các tinh thể không hoà tan trong nước tạo ra một khối rắn gây ra tắc nghẽn một phần hoặc hoàn toàn tại đường tiểu. Thật ra, “viên sỏi thận” không phải là một khối đá như sỏi chúng ta nhặt ngoài tự nhiên. Thành phần “viên sỏi thận” bao gồm các tinh thể muối khoáng chủ yếu là canxi, các vật lạ trong nước tiểu, xác tế bào chết và vi trùng. Sự liên kết của các phần tử trong cấu trúc sỏi có thể yếu, và có thể bị dòng nước tiểu phá vỡ. Hình ảnh mô phỏng một vị trí cụ thể của sỏi thận Tuỳ theo vị trí xuất hiện của sỏi mà tạo thành Sỏi bể thận. Sỏi niệu quản. Sỏi bàng quang. Sỏi niệu đạo. Vị trí khác nhau có thể gây triệu chứng khác nhau một chút, do đó không phải bệnh “sỏi thận” nào cũng biểu hiện giống hệt nhau. Trái Sỏi niệu quản và sỏi bàng quang. Phải Sỏi bể thận và Sỏi niệu quản. Nguyên nhân bị sỏi thận? Uống ít nước, nước tiểu thường xuyên bị cô đặc Các tinh thể canxi, magie trong nước tiểu trở nên nhiều hơn và dễ kết hợp với các chất khác tạo thành sỏi. Một số bệnh lý và thuốc làm tăng canxi nước tiểu U tuyến cận giáp, gãy xương lớn, bất động lâu và sử dụng thuốc corticoid. Bất thường cấu trúc đường tiểu Làm sỏi dễ lắng động hẹp khúc nối bể thận – niệu quản,…. Nhiễm trùng tiểu tái đi tái lại Nhiễm trùng tiểu là một trong những nguyên nhân dẫn đến sỏi thận. Sử dụng thuốc và dinh dưỡng không phù hợp. Xem thêm Corticoid là gì? Hậu quả của việc lạm dụng Corticoid Dấu hiệu của bệnh? Đau quặn hông lưng nhiều, có thể lan xuống khu vực dưới rốn, đùi. Buồn nôn và nôn. Bí tiểu. Tiểu dắt, són. Tiểu máu, tiểu đục. Sốt, lạnh run. Sỏi thận có nguy hiểm không? Tuỳ thuộc vào kích thước, bản chất và vị trí của sỏi mà có thể có những ảnh hưởng khác nhau. Nhìn chung các sỏi nhỏ có thể tự ra ngoài theo dòng nước tiểu. Tuy nhiên, các sỏi kích thước lớn, cấu trúc phức tạp có thể gây tắc nghẽn, tổn thương niêm mạc đường tiểu. Do đó, gây nhiều biến chứng và có nhiều biến chứng nguy hiểm Nhiễm trùng đường tiểu, bản thân nhiễm trùng tiểu có thể gây ra nhiều biến chứng khác vô cùng đáng ngại. Vấn đề gây nên nhiễm trùng tiểu có thể mới là nguy hiểm thật sự chứ không phải là viên sỏi. Suy thận cấp Tắc nghẽn hoặc tổn thương nhu mô thận sẽ dẫn đến tổn thương thận cấp tính. Suy thận mạn. Xem thêm Bệnh thận mạn tính và những điều bạn cần biết Điều trị sỏi thận như thế nào? Việc điều trị sẽ phụ thuộc vào đánh giá của bác sĩ về kích thước, cấu trúc sỏi và biểu hiện triệu chứng của bệnh nhân. Nhìn chung có nhiều phương pháp xử lý khác nhau 1. Không can thiệp Đây cũng là một cách nếu sỏi nhỏ thường lít nước/ngày. Hãy bổ sung thêm khi bạn là người vận động nhiều hay làm việc ngoài trời nắng. Nhu cầu nước cũng sẽ tăng khi nôn ói, tiêu chảy hoặc sốt. Vận động thường xuyên Bất động lâu ngày làm tăng nguy cơ tạo sỏi. Chế độ ăn phù hợp Không lạm dụng caffein. Hạn chế muối. Kiểm soát cân nặng. Hạn chế thức ăn nhiều cholesterol, đặc biệt là da và nội tạng động vật. Đi khám ngay khi có các triệu chứng bất thường đường tiểu. Nhiễm trùng tăng nguy cơ tạo sỏi, và sỏi làm nặng hơn tình trạng nhiễm trùng. Phòng ngừa tái phát Tỷ lệ tái phát sỏi là khá cao đối với người đã từng bị. Hãy lưu ý phòng ngừa đặc biệt trên những đối tượng này. Theo dõi sát và tái khám cẩn thận. Sỏi thận là vấn đề tiết niệu phổ biến. Hiệu quả nhất bao giờ cũng là phòng bệnh hơn chữa bệnh. Một chế độ ăn hợp lý, uống đủ nước, thường xuyên vận động thể dục thể thao có hiệu quả trong việc ngừa sỏi thận. Hãy đi khám với bác sĩ chuyên khoa nội Thận hoặc ngoại Tiết Niệu nếu bạn có bất thường gì về đường tiểu. Những biến chứng gây ra bởi sỏi không bao giờ được phép coi thường bạn nhé. Sỏi thận là bệnh lý thường gặp nhất của đường tiết niệu. Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, cơ thể mất nước nhiều, nên từ lâu đã được coi là một vùng dịch tễ sỏi. Khoảng 10-14% người Việt có sỏi trong thận. Tại Mỹ, khảo sát cho thấy có 7-10% người từng bị sỏi thận một lần trong đời mà không hề biết. Tỉ lệ mắc bệnh trên toàn thế giới vào khoảng 3% dân số và khác nhau giữa các quốc gia. Sỏi thận là gì? Sỏi thận là bệnh lý sỏi tiết niệu thường gặp ở nam giới trung niên. Tuổi mắc bệnh thường từ 30 – 55 tuổi 1. Nam giới có cấu tạo đường tiết niệu phức tạp hơn nên sỏi thường khó tự đào thải như ở nữ giới. Sỏi tiết niệu là những phân tử rắn được hình thành do sự kết tinh tự nhiên của các tinh thể vô cơ trong nước tiểu. Chúng có thể gây đau, buồn nôn và nôn, tiểu máu và có thể gây sốt, rét run vì nhiễm trùng thứ phát. Đa phần chúng bắt đầu hình thành từ thận, di chuyển dọc theo đường đi của hệ tiết niệu và bài tiết ra ngoài nên nhiều người quen gọi là sỏi thận. Khi hệ tiết niệu bắt đầu hiện tượng lắng và kết tinh sỏi, những tinh thể và viên sỏi nhỏ thường đi theo đường tiểu và được bài tiết ra ngoài. Tại một vị trí nào đó trên đường niệu, tinh thể hoặc viên sỏi bị vướng lại, tiếp tục lắng và kết tinh tạo thành những viên sỏi kích thước lớn hơn. Tại đây, sỏi kích thước lớn dần, có thể làm cản trở dòng lưu thông của nước tiểu dẫn tới ứ đọng nước tiểu, giãn phình ở phần trên vị trí tắc nghẽn. chính tại vị trí này, sẽ xảy ra nhiều biến chứng như nhiễm trùng, kết tinh và hình thành thêm các loại sỏi khác nhau… phá hủy dần dần cấu trúc thận. Dựa vào vị trí của viên sỏi trên hệ tiết niệu mà người ta cũng có thể gọi tên hoặc phân loại sỏi Sỏi thận là sỏi tiết niệu nằm ở thận, gồm sỏi đài thận và sỏi bể thận. Sỏi niệu quản do sỏi di chuyển từ bể thận xuống niệu quản và gây bế tắc đường tiết niệu. Sỏi bàng quang 80% là do sỏi từ thận, niệu quản rớt xuống hoặc do bế tắc vùng cổ bàng quang, niệu đạo Sỏi niệu đạo khi sỏi theo dòng nước tiểu từ bàng quang xuống niệu đạo, bị mắc kẹt tại đây. Các loại sỏi thận Sỏi ở hệ tiết niệu thường được phân loại theo thành phần hóa học 2, bao gồm Sỏi calcium là loại sỏi thường gặp nhất, chiếm 80-90%, gồm sỏi Calci Oxalat, Calci Phosphat. Calci Oxalat chiếm tỷ lệ cao ở các nước nhiệt đới như Việt Nam. Sỏi này rất cứng và cản quang, có hình dáng gồ ghề, màu vàng hoặc màu nâu Sỏi phosphat thường gặp là loại Magnésium Ammonium Phosphate hay còn gọi là sỏi nhiễm trùng, thường do nhiễm trùng niệu lâu ngày gây ra, đặc biệt là do vi khuẩn proteus.. Sỏi có màu vàng và hơi bở. Loại sỏi này thường rất lớn có thể lấp kín các đài bể thận gây ra sỏi san hô. Sỏi acid uric hình thành do quá trình chuyển hóa chất purine tăng trong cơ thể. Các nguyên nhân có thể làm tăng chuyển hoá purine như sử dụng nhiều thức ăn có chứa nhiều chất purine như lòng heo, lòng bò, thịt cá khô, nấm…, hoặc bệnh nhân bị gout, hoặc sỏi hình thành do phân hủy các khối ung thư khi dùng thuốc hóa trị liệu. Sỏi cystine được hình thành do sai sót của việc tái hấp thu chất cystine ở ống thận. Sỏi này tương đối ít gặp ở Việt Nam. Sỏi cystine là sỏi không cản quang, có bề mặt trơn láng. Dấu hiệu của bệnh sỏi thận Triệu chứng của bệnh sỏi thận hoàn toàn là do biến chứng của viên sỏi gây ra với hệ tiết niệu, chứ không phải do hòn sỏi gây ra. 3 Cơn đau quặn thận Biểu hiện rõ ràng nhất khi thận có sỏi là chúng gây đau dữ dội, đến mức người ta gọi đó là “cơn đau bão thận” hoặc “cơn đau quặn thận”. Sỏi gây đau ở vùng hố thắt lưng một bên, lan ra phía trước, xuống dưới. Đó là khi khởi phát, xuất hiện rất đột ngột, sau khi có một hoạt động gắng sức. Sau đó cường độ đau mạnh hơn. Người bệnh thường đau quằn quại, vật vã để tìm một tư thế giảm đau nhưng không được. Khi gặp triệu chứng này, người bệnh cần phải đến ngay cơ quan y tế, bệnh viện để các bác sĩ thực hiện các biện pháp giảm cơn đau do sỏi thận, tuyệt đối không được tự ý thực hiện tại nhà. Có thể phân biệt hai trường hợp của cơn đau sỏi thận Cơn đau do sỏi ở thận do sự tắc nghẽn bể thận và đài thận Cơn đau xuất hiện ở hố thắt lưng, dưới xương sườn 12, đau lan về phía trước hướng về rốn và hố chậu. Cơn đau sỏi niệu quản xuất phát từ hố của thắt lưng lan dọc xuống dưới theo đường niệu quản, đến hố chậu bộ phận sinh dục, mặt trong của đùi. Triệu chứng đi kèm theo cơn đau sỏi thận là buồn nôn, nôn mửa, chướng bụng do liệt ruột. Bệnh nhân có thể bị sốt, rét run nếu có nhiễm trùng tiết niệu kết hợp. Khi bác sĩ khám, có thể thấy điểm sườn lưng đau. Các điểm niệu quản bị ấn cũng có cảm giác đau, và có thể thấy thận lớn. Không có sự liên quan giữa kích thước hay số lượng viên sỏi với việc xuất hiện và cường độ đau của cơn đau quặn thận. Một số trường hợp như Sỏi thể yên lặng, người bệnh hoàn toàn không có triệu chứng đau, hoặc đau không rõ ràng như ê ẩm vùng thắt lưng một hoặc hai bên… Tiểu ra máu Các trường hợp sỏi có bề mặt nhám, gai san hô… khi cọ xát vào đường tiểu thì gây tiểu ra máu. Bình thường sỏi thận không gây ra hiện tượng này. Tuy nhiên, do bệnh nhân hoạt động nhiều, hoặc vận động mạnh thì gây tiểu ra máu. Bế, tắc đường tiểu Đường tiểu như một ống nước, hòn sỏi xuất hiện gây ra tình trạng tắc nghẽn, bế tắc. Bao gồm bí tiểu, bế tắc thận, thận ứ nước căng to. Vì các dấu hiệu này tương tự với nhiều bệnh khác nên cần thăm khám với bác sĩ có chuyên môn để phân tích nguyên nhân và chẩn đoán Nguyên nhân gây bệnh sỏi thận Có nhiều nguyên nhân gây ra sỏi thận, bắt đầu từ sự kết tinh, lắng đọng tinh thể trong hệ tiết niệu. Theo các chuyên gia, sỏi tiết niệu hình thành có thể do nước tiểu có chứa quá nhiều hóa chất, điển hình là calci, acid uric, cystine… 85% số lượng sỏi hình thành bắt đầu từ sự lắng đọng canxi. Các nguyên nhân cụ thể được chỉ ra là Uống không đủ nước Cơ thể không đủ nước cho thận bài tiết, nước tiểu quá đặc. Nồng độ các tinh thể bị bão hòa trong nước tiểu. Chế độ ăn nhiều muối Đây là nguyên nhân thường gặp ở người Việt, khẩu vị của người Việt khá mặn. Muối và nước mắm là gia vị quen thuộc hàng ngày… Ăn nhiều muối NaCl, cơ thể phải tăng đào thải Na+, tăng Ca++ tại ống thận… Do đó, sỏi Calcium dễ hình thành. Chế độ ăn nhiều đạm Đạm trong đồ ăn làm tăng nồng độ pH nước tiểu, tăng bài tiết Calcium và lại làm giảm khả năng hấp thu Citrate. Nạp bổ sung Calcium, Vitamin C sai cách Chúng ta bổ sung vi chất quá nhiều, dẫn đến tình trạng cơ thể thừa chúng. Đối với Vitamin C, khi chuyển hóa thành gốc Oxalat. Còn ion Ca++ sẽ cạnh tranh và ức chế việc hấp thu các ion khác như Ze++, Fe++, … Khi thận quá thừa các chất sẽ bị quá tải, đương nhiên sẽ tăng nguy cơ hình thành sỏi tại đây. Hậu quả của bệnh lý đường tiêu hóa như viêm loét dạ dày, tiêu chảy… cũng có thể hình thành sỏi Calci Oxalat. Tiêu chảy làm mất nước, mất các ion Na+ K+,…. giảm lượng nước tiểu; nồng độ Oxalat trong nước tiểu tăng,… từ đó dễ hình thành sỏi. Yếu tố di truyền Bệnh cũng có thể do gen trong gia đình. Nguy cơ mắc bệnh trong các thành viên cùng huyết thống, cao hơn bình thường. Ở những người bẩm sinh hoặc mắc phải, có dị dạng đường tiết niệu, khiến đường tiểu bị tắc nghẽn ví dụ do Phì đại tuyến tiền liệt, túi thừa trong bàng quang, u xơ tiền liệt tuyến…. Một số bệnh nhân chấn thương, lâu ngày không di chuyển được. Đường tiết niệu tắc nghẽn làm nước tiểu, mà tích trữ lâu ngày, lắng đọng sinh ra sỏi thận. Nhiễm trùng đường tiết niệu. Vi trùng xâm nhập, gây viêm đường tiết niệu dai dẳng, tạo ra mủ, lắng đọng các chất bài tiết lâu ngày cũng là nguyên nhân gây sỏi ở thận Béo phì Theo một số nghiên cứu, nguy cơ mắc bệnh của người béo phì sẽ cao hơn người bình thường. Bệnh sỏi thận có nguy hiểm không? Khi sỏi bị vướng lại ở bên trong đường tiết niệu, nó sẽ ảnh hưởng đến đường tiết niệu qua 3 giai đoạn Giai đoạn chống đối Giai đoạn này, phần trên đường tiết niệu vướng sỏi sẽ gia tăng co bóp để đẩy viên sỏi ra ngoài. Niệu quản và bể thận phía trên đều chưa bị giãn nở. Có sự tăng áp lực đột ngột đài bể thận gây cơn đau quặn thận. Trên lâm sàng ở giai đoạn này bệnh nhân thường biểu hiện bởi những cơn đau bão thận điển hình. Giai đoạn giãn nở Giai đoạn này là hệ quả của giai đoạn chống đối. Sau khoảng 3 tháng mà không đẩy được sỏi ra ngoài, niệu quản, bể thận và đài thận ở trên vị trí tắc sẽ bị giãn nở. Nhu động niệu quản bị giảm Giai đoạn biến chứng Viên sỏi lâu không di chuyển do bị bám dính vào niêm mạc. Niệu quản bị xơ dày, có thể bị hẹp lại. Giai đoạn này, chức năng thận sẽ bị suy giảm dần. Thận bị ứ nước. Và nếu có nhiễm trùng sẽ còn có tình trạng ứ mủ. Sỏi còn tồn tại trong đường tiết niệu, là một yếu tố thuận lợi cho việc tái nhiễm trùng. Để lâu ngày, sẽ gây viêm thận bể thận mạn tính và dẫn đến suy thận mạn tính. Xét nghiệm – Chẩn đoán sỏi thận Để chẩn đoán bệnh sỏi thận một cách chính xác và đưa ra phác đồ điều trị hiệu quả, bệnh nhân sẽ phải thực hiện nhiều biện pháp xét nghiệm cận lâm sàng 4. Đó là Siêu âm Khi nghi ngờ có thận có sỏi, phương pháp chẩn đoán đầu tiên được chỉ định là siêu âm, vì nó khá hiệu quả, đơn giản và ít tốt kém. Khi siêu âm bác sĩ có thể phát hiện sỏi, đồng thời có thể tiên lượng được độ ứ nước của thận, niệu quản và độ dày mỏng của chủ mô thận. Một số trường hợp bị sỏi nhưng không có biến chứng hoặc triệu chứng rõ ràng, đã được phát hiện ra khi tình cờ khám siêu âm vì một lý do nào đó khác hoặc trong các cuộc thăm khám tổng quát định kỳ. Xét nghiệm nước tiểu Đây là xét nghiệm bắt buộc trong chẩn đoán sỏi thận. Vì từ kết quả của xét nghiệm này có thể kết luận được nhiều về tình trạng bệnh – các giai đoạn và biến chứng, đặc biệt là Nhiễm trùng đường tiết niệu. Soi cặn lắng Các tinh thể Oxalat, phosphat, Calci… Đây chính là các thành phần của sỏi thận. Có thể kết luận được loại sỏi đang tồn tại và hình thành trong hệ tiết niệu. pH nước tiểu Vi trùng sẽ phân hủy Urê thành Amoniac nên khi nồng độ pH>6,5 có thể kết luận là nhiễm trùng đường niệu. Protein niệu Nếu Protein niệu nhiều, bác sĩ sẽ phải chẩn đoán thêm các bệnh bệnh lý cầu thận vì nếu chỉ nhiễm trùng niệu không thôi, thì trong nước tiểu có rất ít Protein niệu. Tìm tế bào và vi trùng Xét nghiệm nước tiểu tìm thấy nhiều hồng cầu, bạch cầu. Nếu nghi ngờ sỏi thận có biến chứng nhiễm trùng, khi quay ly tâm, soi và nhuộm Gram có thể thấy vi trùng trong nước tiểu. ASP – Chụp Xquang bụng không chuẩn bị Đa phần sỏi hệ tiết niệu ở Việt Nam là sỏi cản quang nên chỉ định chụp Xquang rất có giá trị trong chẩn đoán. Biện pháp này giúp bác sĩ xác định vị trí sỏi cản quang, cho biết kích thước số lượng và hình dáng của sỏi. UIV – Chụp hệ tiết niệu qua đường tĩnh mạch Chụp UIV cho biết hình dáng thận, đài bể thận, niệu quản; vị trí của sỏi trong đường tiết niệu; Mức độ giãn nở của đài bể thận, niệu quản. Thông qua đó có thể xác định được chức năng bài tiết chất cản quang của thận từng bên. Chụp X quang niệu quản thận ngược dòng và xuôi dòng Đây là biện pháp để phát hiện sỏi không cản quang, nó có giá trị trong trường hợp thận câm trên phim UIV Nội soi bàng quang Biện pháp này ít dùng để chẩn đoán mà chỉ dùng trong phẫu thuật nội soi lấy sỏi là chính Điều trị căn bệnh sỏi thận Điều trị nội khoa để giảm các cơn đau quặn thận do sỏi Giảm lượng nước uống vào khi đang có cơn đau quặn thận Giảm đau Bác sĩ thường sử dụng thuốc kháng viêm không steroid trong các trường hợp này, tiêm tĩnh mạch Diclofenac Voltarene ống 75mg. Một số trường hợp không có hiệu quả, bác sĩ sẽ cân nhắc việc sử dụng Morphin. Thuốc giãn cơ trơn tiêm tĩnh mạch Buscopan, Drotaverin,… Kháng sinh nếu có dấu hiệu nhiễm trùng, thường được sử dụng nhiều là kháng sinh có tác dụng trên vi khuẩn gram âm như Cephalosporin thế hệ 3, Quinolone và các Aminoside. Nếu bệnh nhân bị suy thận thì tùy theo mức độ suy thận để thay đổi liều lượng, tránh dùng Aminoside Xử lý nguyên nhân gây tắc nghẽn niệu quản sỏi, dị dạng đường niệu gây ứ nước. Khi điều trị nội khoa không hiệu quả với các cơn đau quặn thận, bác sĩ sẽ chỉ định phẫu thuật sớm để giải quyết tắc nghẽn. Tùy cơ địa bệnh nhân, số lượng và kích thước sỏi; tình trạng chức năng thận từng bên… bác sĩ sẽ quyết định dẫn lưu tối thiểu bể thận qua da, hoặc mổ cấp cứu. * Lưu ý điều trị sỏi bằng nội khoa Đối với sỏi nhỏ và trơn láng Có thể tăng dòng nước tiểu bằng thuốc lợi tiểu và uống nhiều nước,… viên sỏi có thể được tống ra ngoài tự nhiên nhờ nhu động niệu quản. dùng thêm thuốc chống viêm không steroid, làm cho niêm mạc niệu quản không bị phù nề, tránh cản trở đường di chuyển của sỏi. Đối với sỏi acid uric – sỏi không cản quang thường gặp ở các nước phát triển. Sỏi này kết tinh trong nước tiểu pH < 6 và có thể tan khi kiềm hóa. Vì vậy với loại sỏi này có thể điều trị bằng cách Cho bệnh nhân uống nhiều nước trên 2 lít nước mỗi ngày, kiêng rượu bia và chất kích thích. Chế độ ăn cần giảm lượng đạm. Làm kiềm hóa nước tiểu bằng các loại thuốc Bicarbonate de Sodium 5 -10g/ ngày. Ức chế purine bằng Allopurinol 100- 300mg/ngày. Lưu ý có thể gây tác dụng phụ như buồn nôn, tiêu chảy, ngứa, nổi mẩn ở da, suy chức năng gan. Nên uống thuốc sau khi ăn. Điều trị nội khoa hậu phẫu mổ lấy sỏi Bệnh nhân cần lưu ý điều trị sỏi thận không có nghĩa là sẽ dứt điểm không tái phát. Bởi lẽ, rất có thể sẽ tiếp tục có nguy cơ sau Phẫu thuật vẫn còn sót sỏi. Đường tiết niệu vẫn có những vị trí hẹp, nên hệ tiết niệu vẫn tiếp tục lắng cặn và kết tinh hình thành sỏi. Đường tiết niệu vẫn còn bị nhiễm trùng. Nhiễm trùng niệu là một trong những nguyên nhân gây ra sỏi thận, nên cần phải điều trị dứt điểm nhiễm trùng niệu. Tốt nhất, nên điều trị nhiễm trùng tiết niệu theo kháng sinh đồ để đạt hiệu quả triệt để. Điều trị ngoại khoa Không phải bệnh nhân hay bác sĩ là có thể quyết định hoàn toàn phương pháp điều trị sỏi thận, mà do chính viên sỏi, vị trí của nó và giai đoạn bệnh sẽ quyết định áp dụng phương pháp mổ sỏi thận phù hợp để cho kết quả tốt nhất, tiết kiệm chi phí. Khi sỏi đã rơi xuống niệu quản gần bàng quang, có thể dùng ống nội soi bán cứng và tia laser phá rồi để lôi ra. Khi hòn sỏi ở trên cao, có thể dùng phương pháp nội soi ống mềm. Bác sĩ sẽ sử dụng một ống mềm để đưa lên qua đường niệu đạo để tiếp cận sỏi. Khi sỏi ở trung thận thì dùng máy tán sỏi qua da, đâm một lỗ trên thận nhỏ để phá sỏi. Trong phương pháp lấy sỏi qua da, trực tiếp lấy hòn sỏi ra. Nếu hòn sỏi chỉ 1cm thì bác sĩ có thể tán sỏi ngoài cơ thể, ít xâm lấn, không phải nằm viện, rẻ hơn. Điều trị dự phòng Bệnh nhân nên uống nhiều nước và thường xuyên vận động, nhảy dây là một lựa chọn rất tốt. Vì sỏi thận thường dính vào trong niêm mạc thận, khi vận động nhất là nhảy dây có thể rời ra và tăng cơ hội tự đào thải, nhất là những sỏi đài dưới. 5 Với bệnh nhân sỏi thận, phải uống nước nhiều để đảm bảo lượng nước tiểu nhiều hơn 2 lít mỗi ngày. Nếu làm trong môi trường nóng nực, chơi thể thao nhiều phải bù đủ lượng nước đã mất. Để biết uống cụ thể bao nhiêu nước là đủ, có thể dựa theo công thức Ví dụ người 50kg, lượng nước cần uống là 50 x 40 = cc, tức 2 lít nước; Tương tự, người 60kg sẽ cần uống là cc Quan trọng là, phải đi tiểu đủ, nước tiểu phải trong. Nếu thấy nước tiểu vàng phải xem lại đã uống đủ nước chưa. Mỗi ngày phải tự kiểm tra, khi nào nước tiểu trắng trong là đủ. Nếu tăng hàm lượng Calci vô căn duy trì chế độ ăn có lượng muối bình thường 6 – 9 g NaCl/ngày lượng Protein bình thường 1,2 g/kg/ngày. Đặc biệt là hạn chế nạp calci ở mức 800 – 1000 mg/ngày. Sỏi Uric Chế độ ăn giảm cung cấp các chất có chứa nhiều nhân purine. Kiềm hóa nước tiểu để 6,5< pH niệu <7 để tránh lắng đọng tinh thể Calci, phospho. Sỏi do nhiễm trùng sau khi phẫu thuật lấy sỏi, tiếp tục dùng kháng sinh kéo dài khoảng 2 – 3 tháng. Chọn kháng sinh tập trung tốt lên nhu mô thận như Cotrimoxazole, Quinolone… Sỏi Cystin Uống nước nhiều, 3 lít/ngày. duy trì pH niệu từ 7,5- 8 bằng cách uống Natri Bicarbonate mỗi ngày Tóm lại, sỏi thận là một bệnh phổ biến, thường gặp nhất trong đời sống hàng ngày đối với chúng ta. Tuy nhiên, đây là một căn bệnh nguy hiểm nhưng không khó chữa. Đặc biệt, chúng ta hoàn toàn có thể chủ động dự phòng và chẩn đoán sớm sỏi thận bằng cách quan tâm đến sức khỏe, duy trì một lối sống lành mạnh và chế độ ăn uống vệ sinh khoa học.

nguyên nhân sỏi thận tái phát